Các nguyên tắc và quyền bầu cử của công dân
Cập nhật : 16:07 - 11/03/2011

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Để thực hiện quyền lực nhà nước ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhân dân bầu ra đại biểu Quốc hội. Bầu cử, vì vậy, trở thành yếu tố quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ và là biểu hiện, thước đo của dân chủ. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta đã được hình thành, phát triển và hoàn thiện Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ngày 22/5/2011 đã được chọn là ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016.  

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân để phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016 diễn ra trong cùng một ngày. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử ĐBQH và luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tập trung sửa các điều về trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành và cơ bản giữ các nguyên tắc bầu cử.

Nguyên tắc bầu cử

Việc bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Các nguyên tắc bầu cử còn quy định quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm những quy định về bầu cử.

Nguyên tắc phổ thông

Nhà nước ta là Nhà nước của dân, người dân làm chủ trong việc bầu ra những người đại diện cho mình. Vì vậy, Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân đều có thể tham gia bầu cử. Ngược lại, công dân tham gia bầu cử để thực hiện quyền chính trị quan trọng, đồng thời là nghĩa vụ của mình.

Nguyên tắc phổ thông thể hiện tính công khai, dân chủ rộng rãi, đòi hỏi sự bảo đảm để công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử.

Nguyên tắc phổ thông được thể hiện ở tính toàn dân và toàn diện của bầu cử. Bầu cử là công việc của mọi người, là sự kiện chính trị của xã hội. Cuộc bầu cử được tiến hành trong cả nước nếu đó là bầu cử đại biểu Quốc hội, trong cả địa phương nếu đó là bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Các bước chuẩn bị và tiến hành bầu cử cũng phải bảo đảm yêu cầu phổ thông, cụ thể là:

- Các tổ chức bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân.

- Danh sách cử tri được niêm yết công khai nơi công cộng để nhân dân theo dõi.

- Danh sách những người ứng cử cũng được lập và niêm yết công khai để cử tri tìm hiểu và lựa chọn.

- Ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu phải được ấn định và công bố trước để nhân dân biết.

- Việc kiểm phiếu cũng phải được tiến hành công khai có sự tham gia chứng kiến của đại diện cử tri; đại diện các cơ quan thông tin đại chúng được vào chứng kiến kiểm phiếu.

Nguyên tắc bình đẳng

Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm để mọi công dân có khả năng như nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nguyên tắc bình đẳng nhằm bảo đảm sự khách quan trong bầu cử, không thiên vị.

Nguyên tắc thể hiện trong quy định của pháp luật về quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân; quy định số lượng dân như nhau thì được bầu số đại biểu bằng nhau; mỗi cử tri được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử, mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.

Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, Nhà nước có các biện pháp bảo đảm để đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ chiểm tỷ lệ thích đáng của mình.

Nguyên tắc bầu cử trực tiếp

Nguyên tắc này bảo đảm để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước bằng lá phiếu của mình không qua khâu trung gian. Cùng với các nguyên tắc khác, nguyên tắc này là điều kiện cần thiết bảo đảm tính khách quan của bầu cử.

Không phải nước nào trên thế giới cũng bầu cử theo nguyên tắc trực tiếp. Ở nhiều nước bầu cử được tiến hành gián tiếp qua nhiều cấp. Thường ở các nước này cử tri bầu ra đại cử tri, đại cử tri bầu ra người đại diện. Hoặc, cử tri bầu ra đại biểu, đại biểu bầu ra đại cử tri, đại cử tri bầu ra người đại diện. Cách bỏ phiếu cũng vậy. Luật của một số nước cho phép cử tri bầu qua bưu điện hoặc mạng điện tử.

Trên cơ sở nguyên tắc bầu cử trực tiếp, pháp luật bầu cử ở nước ta có các quy định nhằm bảo đảm để cử tri trực tiếp thể hiện nguyện vọng của mình, từ khâu đề cử, ứng cử đến khâu bỏ phiếu; cử tri tự mình đi bầu, tự tay mình bỏ phiếu vào thùng phiếu; không được bầu bằng cách gửi thư.

Nguyên tắc bỏ phiếu kín

Nguyên tắc này bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn, để sự lựa chọn đó không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài. Pháp luật quy định rõ việc bố trí nơi viết phiếu phải kín, không có ai được đến gần cử tri đang viết phiếu bầu.

Quyền bầu cử

Quyền bầu cử là quyền chính trị quan trọng bảo đảm cho công dân có thể tham gia vào việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Quyền bầu cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình ở cơ quan quyền lực nhà nước.

“Quyền bầu cử” bao gồm việc đề cử, giới thiệu người ứng cử, bỏ phiếu, tức là khả năng chủ động trong lựa chọn của công dân.

Vì tính chất quan trọng của quyền bầu cử nên quyền bầu cử nên quyền bầu cử chỉ được quy định cho những người phát triển bình thường về mặt thần kinh, đạt đến độ chín của sự phát triển tâm, sinh lý nhằm bảo đảm cho họ có sự lựa chọn chính xác và độc lập. Điều 54 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”.

Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định độ tuổi của công dân để có quyền bầu cử là mười tám tuổi. Cũng có nước chỉ quy định chung: Tất cả các công dân đến tuổi trưởng thành đều có quyền tham gia bầu cử. Cũng có nước quy định công dân đủ 16 tuổi là có quyền bầu cử.

Pháp luật của một số nước khác thường có những quy định về điều kiện tài sản, thời hạn định cư, trình độ văn hóa để hạn chế quyền bầu cử của cử tri. Chúng ta không quy định những điều kiện như vậy. Ngoài các quy định về độ tuổi là quy định cần thiết bảo đảm độ chín chắn trong sự lựa chọn của cử tri, pháp luật nước ta không quy định điều kiện nào khác.

Để tránh tùy tiện trong việc hạn chế quyền bầu cử của công dân, pháp luật quy định những trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri, đó là: người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án đã có hiệu lực; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự.

Ở nước ta, quyền bầu cử được coi là quyền chính trị rất quan trọng, là vinh dự của công dân. Công dân thực hiện quyền đó tự nguyện. Vì vậy, các cuộc bầu cử có số cử tri tham gia rất đông (thường là khoảng trên 80%). Ở một số nước, bỏ phiếu là quyền và nghĩa vụ của công dân; bầu cử là nghĩa vụ của mỗi người, trốn tránh là vi phạm nghĩa vụ trước Tổ quốc.

Hình thức ghi nhận quyền bầu cử của công dân là danh sách cử tri. Công dân có quyền bầu cử, cư trú thường xuyên hay tạm thời ở đâu đều được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi đó. Để bảo đảm quyền bầu cử của công dân, pháp luật còn quy định thủ tục khiếu nại và xem xét, giải quyết khiếu nại về vấn đề này.

Theo Quốc hội Việt Nam- Tổ chức, hoạt động và đổi mới. PSG TS Phan Trung Lý           

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK