Vai trò giám sát của Quốc hội
Cập nhật : 12:10 - 02/11/2010

Quan niệm và phạm vi của giám sát

Hiến pháp và pháp luật quy định, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước trong việc tuân thủ Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, chính quyền địa phương. Sở dĩ như vậy vì quan niệm của chúng ta là cơ quan nào được trao quyền thì phải chịu sự giám sát của Quốc hội.

Quan niệm này dẫn đến một số hệ quả không được như mong muốn. Trước hết, thông thường, theo dõi sự tuân thủ pháp luật là công việc của tòa án, viện kiểm sát, các cơ quan thực thi pháp luật như cơ quan điều tra, cơ quan công an, hải quan, phòng thuế… Cơ quan lập pháp không phải được lập ra để làm việc này và cũng không đủ lực làm việc này. Như vậy, đây đã là một sự “lệch pha” trong quan niệm. Quốc hội giám sát chính quyền địa phương cũng là một điểm đặc thù nữa của Việt Nam. Bên cạnh đó, giám sát việc xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo của người dân là một núi công việc khổng lồ, hầu như không thể gánh được. Như vậy, quan niệm về giám sát như ở Việt Nam dẫn đến phạm vi giám sát quá rộng, khiến cho hoạt động giám sát không được hiệu quả.

Các phương thức giám sát

Theo pháp luật quy định, Quốc hội và đại biểu Quốc hội có thể sử dụng nhiều cách thức giám sát. Trong số đó, những cách thức sau đây tỏ ra có hiệu quả nhất :

Chất vấn : Chất vấn cho phép đại biểu Quốc hội hỏi để làm rõ trách nhiệm của đối tượng chất vấn, nhất là các thành viên Chính phủ. Chất vấn có thể sử dụng để tìm hiểu công việc của chính phủ, cách tiêu tiền ngân sách quốc gia của chính phủ, tại sao chính phủ lại làm như thế, chứ không phải làm khác…

Phương thức này hiện đang có điểm yếu là Quốc hội không có chế tài nếu đối tượng trả lời chất vấn thực hiện bổn phận của mình không đúng, ví dụ như quanh co, chối bỏ trách nhiệm, hoặc không thực hiện lời hứa…

            Bỏ phiếu tín nhiệm : Bỏ phiếu tín nhiệm lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), sau đó được quy định cụ thể hơn trong Luật Tổ chức Quốc hội và Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX năm 2004, các quy định mới về bỏ phiếu tín nhiệm được đưa vào các văn bản liên quan đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban. Tác dụng lớn nhất của bỏ phiếu tín nhiệm là tính răn đe, tạo sức ép buộc Chính phủ phải hoạt động tốt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những quy định này vẫn khó thực hiện, vì còn chung chung và có phần trói buộc. Nhất là quy định phải có ít nhất 20% tổng số đại biểu đề nghị mới bỏ phiếu tín nhiệm, đại biểu lại không được vận động các đại biểu khác khiến cho bỏ phiếu tín nhiệm hầu như không thể xảy ra. Quy định bất khả thi cũng khiến cho tính răn đe của bỏ phiếu tín nhiệm giảm đi đáng kể.

            Các ủy ban hoạt động thường xuyên : Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có thể giám sát các bộ, ngành thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Hội đồng dân tộc, Ủy ban và các thành viên có thể sử dụng những quyền đã được pháp luật trao cho để mời các bộ trưởng hoặc những nhân vật khác đến giải trình tại các cuộc họp của Hội đồng dân tộc, Ủy ban. Tuy nhiên, thời gian qua, hình thức giám sát này không được sử dụng một cách hiệu quả. Các Ủy ban cũng có thể sử dụng thẩm quyền của mình để bảo vệ quyền công dân. Ví dụ như các Ủy ban vẫn tổ chức đoàn giám sát đến các trại giam, trại tạm giam, tạm giữ để kiểm tra tình hình giam giữ ở đó, sau đó gửi báo cáo đến các cơ quan hữu quan.

Ủy ban điều tra : Ủy ban điều tra được thành lập tạm thời để điều tra một vấn đề cụ thể. Đây là hình thức giám sát hiệu quả vì nó tập trung vào một vấn đề đã xác định rõ và hướng đến những biện pháp giải quyết vấn đề đó. Các ủy ban điều tra không có thẩm quyền thực thi như cơ quan thực thi pháp luật, nhưng tác động dư luận mà nó gây ra lại có hiệu quả khác, nhất là đối với việc phòng ngừa lãng phí và phòng chống tham nhũng.

Cái khó của giám sát

Thực tiễn cho thấy, giám sát tối cao của Quốc hội gặp khó khăn vì những nguyên nhân sau :

Trước hết là quan niệm như đã nói ở trên dẫn đến phạm vi quá rộng, khiến cho Quốc hội chỉ được nhiều quyền chứ ít lực, hạn chế hiệu quả giám sát.

Thứ hai, khoảng cách giữa các quy định pháp luật và thực tiễn. Nhiều quy định về giám sát khó thực hiện vì chỉ đưa ra chung chung về quyền của Quốc hội, nhưng quy trình cụ thể lại không rõ, không phù hợp với thực tiễn hoạt động và nhiều khi các quy định như vậy được đưa ra mà chưa được nghiên cứu kỹ về tính khả thi.

Thứ ba, một trở ngại rất lớn đối với giám sát là thiếu thông tin đã được xử lý. Giám sát đòi hỏi phải có thông tin về đối tượng giám sát, năng lực của cơ quan giám sát và thực quyền trong việc theo dõi, bắt buộc, đôn đốc đối tượng giám sát phải cải thiện tình hình, có phản ứng tích cực. Thế nhưng, trên thực tế Quốc hội vẫn còn thiếu cả ba yếu tố này. Vì vậy, nhiều khi Quốc hội và đại biểu Quốc hội phải quyết trong tình trạng thiếu thông tin.

Thứ tư, các đối tượng chịu giám sát nhiều khi thiếu tinh thần hợp tác, không muốn cung cấp thông tin hoặc cung cấp muộn, không đầy đủ; không chịu nhận trách nhiệm; hoặc nhận trách nhiệm rất nhanh chong, dễ dàng, nhưng sau đó không thực hiện lời hứa, không thực hiện nghiêm túc những kiến nghị giám sát nhưng lại không chịu một chế tài nào.

Cuối cùng, bản thân đại biểu Quốc hội nhiều khi không hiểu đúng trọng tâm giám sát, sức mạnh của giám sát là ở đâu; thiếu những kỹ năng, kiến thức cần thiết để nhìn ra những vấn đề cần giám sát trong số  những vấn đề mà các đối tượng giám sát trình bày. Như một đại biểu Quốc hội khóa trước từng nhận xét, các vị bộ trưởng khi trả lời chất vấn đã “múa các con số” và nhiều đại biểu Quốc hội đành chịu không nắm được hết ý nghĩa của những con số này.

TCER

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK