Những điểm tương đồng và khác biệt về khái niệm giám sát của Quốc hội
Cập nhật : 12:10 - 02/11/2010

Giống như nghị viện của nhiều nước trên thế giới, giám sát là một chức năng quan trọng của Quốc hội Việt Nam. Việc xây dựng cơ sở pháp lý cũng như việc thực thi hoạt động giám sát được đặc biệt chú trọng.

So sánh với Thụy Điển và các nước phát triển khác, việc xây dựng cơ sở pháp lý và thực thi giám sát của Quốc hội ở Việt Nam có cả những điểm tương đồng và những điểm khác biệt. Những điểm tương đồng và khác biệt này có thể thấy được ở hầu hết các khía cạnh của việc nhận thức và việc triển khai hoạt động giám sát của Quốc hội.

Các điểm tương đồng chủ yếu là: nhận thức về công tác giám sát như một chức năng không thể thiếu của Quốc hội. Quốc hội sử dụng chức năng giám sát để tìm hiểu xem các luật và nghị quyết của Quốc hội được các cơ quan hành pháp (và các cơ quan khác) thi hành như thế nào. Giám sát của Quốc hội bao gồm theo dõi, đánh giá và khuyến nghị. Một số công cụ phổ biến của giám sát của Quốc hội đã được luật hoá và áp dụng ở Việt Nam. Đó là: thảo luận ở phiên họp toàn thể; bỏ phiếu tín nhiệm; hỏi đáp; chất vấn; điều tra.

Những khác biệt rất rõ rệt. Dưới đây là những điểm quan trọng nhất:

1.       Ở Thụy Điển và các nước phát triển khác, trọng tâm của công tác giám sát của Quốc hội là kiểm soát ngành hành pháp và đảm bảo các cơ quan hành pháp hành động theo các chuẩn mực do Quốc hội xác lập và vì lợi ích của nhân dân. ở Việt Nam, trọng tâm của công tác giám sát của Quốc hội là đảm bảo việc thực thi pháp luật và đạt tới sự nhất quán của hệ thống pháp luật và tuân thủ hệ thống cấp bậc của luật pháp. Cách tiếp cận này sẽ có cùng giá trị với giả thiết là hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện và đáp ứng tối đa yêu cầu của công lý. Thế nhưng việc các văn bản pháp luật vẫn thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung cho thấy có những rủi ro nhất định trong cách tiếp cận này.

2.       Việc hướng trọng tâm vào việc thi hành pháp luật dẫn tới một phạm vi rất rộng lớn của hoạt động giám sát của Quốc hội ở Việt Nam. Giám sát của Quốc hội bao quát không chỉ Chính phủ, mà còn cả Chủ tịch nước, Toà án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cấp chính quyền địa phương. Khó mà xác định ai sẽ bị giám sát bởi vì tất cả mọi người trong xã hội đều phải tuân thủ luật pháp và thực thi luật pháp trong một chừng mực nào đó. Đây là lý do tại sao có rất nhiều cuộc tranh luận về việc các công dân bình thường có cũng phải chịu sự giám sát của Quốc hội hay không. Trong bất cứ trường hợp nào, phạm vi rộng lớn của giám sát Quốc hội đều gây khó khăn cho Quốc hội trong việc thực hiện giám sát một cách thiết thực và hiệu quả. Điều này lại càng đúng đối với một Quốc hội có tới 75% đại biểu không chuyên trách.

3.       Công tác giám sát của Quốc hội đối với các chính quyền cấp tỉnh, thành phố là rất đặc trưng ở Việt Nam. Có rất nhiều vấn đề về lý thuyết để tranh luận cách nào là tốt nhất để phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ương và các chính quyền cấp tỉnh, thành phố. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật, rõ ràng là việc giám sát chính quyền cấp tỉnh, thành phố là quá tải đối với Quốc hội. Tổng cộng có 63 Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trong cả nước. Và Quốc hội đơn giản là không có cả thời gian lẫn nhân lực để thực hiện hoạt động giám sát với đầy đủ ý nghĩa của nó trên thực tế.

4.       Công tác giám sát việc chính quyền giải quyết các khiếu nại tố cáo của công dân là một nhiệm vụ cực kỳ nặng nề của Quốc hội Việt Nam. Việc tất cả các cơ quan của Quốc hội và tất cả các đại biểu Quốc hội tham gia trực tiếp vào công tác giải quyết khiếu nại tố cáo có lẽ cũng rất đặc trưng ở Việt Nam. Với số lượng khoảng 14,000 đơn thư khiếu nại tố cáo Quốc hội nhận được hàng năm, công việc này là quá tải cho tất cả các đại biểu cũng như tất cả các cơ quan của Quốc hội. Quốc hội đứng trước rủi ro: nếu thực hiện chức năng giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo một cách thực chất thì sẽ không còn thời gian cho bất kỳ hoạt động lập pháp nào khác. Thời gian gần đây, Ban dân nguyện đã được thành lập. Tuy nhiên, tình hình có được cải thiện hay không, thì phải có thêm thời gian mới có thể nhận biết.

5.       Giám sát của Quốc hội đối với các văn bản pháp quy là một nhiệm vụ khổng lồ. Với hàng trăm nghị định, thông tư, hướng dẫn được ban hành mỗi tháng, Quốc hội không thể giám sát từng tiểu tiết của công tác làm văn bản pháp quy. Trên thực tế, chưa tổ chức được công việc này một cách mạch lạc và rõ ràng trên thực tế.

6.       Quốc hội có quyền lực rất lớn trong công tác giám sát. Quốc hội có thể huỷ bỏ hoặc đình chỉ một phần hoặc toàn bộ các văn bản pháp quy trái với Hiến pháp và pháp luật. Vấn đề không phải là Quốc hội có nên có quyền lực đó hay không. Nhưng một Quốc hội có thể tham gia sâu đến như thế vào những vấn đề mang tính chất pháp lý chứ không phải mang tính chất chính trị? Thủ tục nghị viện có đủ để giải quyết các tranh chấp pháp lý hay không? quả là những câu hỏi còn bỏ ngỏ.

7.       Mục tiêu của công tác giám sát của Quốc hội là đảm bảo “Hiến pháp, các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ Ban Thường vụ được thực thi chính xác và nhất quán” (Luật Giám sát 2003). Mục tiêu này của hoạt động giám sát là bao trùm. Tuy nhiên, các mục tiêu cụ thể của giám sát hầu như chưa được ghi nhận. Do các mục tiêu về nội dung, về pháp lý và về kinh tế trong giám sát của Quốc hội chưa được xác định rõ ràng, các công cụ giám sát tương ứng không được phát triển đủ mức cần thiết, ví dụ như không có cơ quan thanh tra, không có kiểm toán lập pháp.

8.       Tổ chức các đoàn giám sát là một nét đặc trưng khác của công tác giám sát của Quốc hội Việt Nam. Các đoàn giám sát kiểu này rất nhiều và phần lớn được gửi xuống các địa phương. Đây rõ ràng là một cách tìm hiểu xem các luật và quyết nghị của Quốc hội được thực thi như thế nào ở cấp địa phương. Nhưng các chuyến thăm viếng thường xuyên có thể là vấn đề cho chính quyền địa phương vì họ phải mất nhiều thời gian để gặp gỡ các đoàn giám sát. Ngoài ra, thông tin thu thập được thông qua các cuộc giám sát thường rời rạc, vụn vặt. Không dễ có được bức tranh toàn cảnh về việc thực hiện chính sách, pháp luật.

9.       Các quy định pháp lý về hoạt động giám sát là khá phức tạp. Có rất nhiều các cơ quan và tổ chức xã hội tham gia vào công tác giám sát của Quốc hội. Nhưng đôi khi việc làm rõ thủ tục khó có thể thực hiện được. Uỷ ban Thường vụ được giao rất nhiều nhiệm vụ và trách nhiệm liên quan tới công tác giám sát của Quốc hội đến mức khó có thể có đủ thời gian và năng lực để thực hiện. Ví dụ: “Thông qua phát hiện những qui dịnh về pháp lý không phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, các đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu Uỷ ban Thường vụ xem xét để huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ qui định đó”. Nếu tất cả 495 đại biểu Quốc hội đều cố gắng làm được điều gì đó liên quan đến giám sát của Quốc hội về sự nhất quán trong hệ thống pháp luật, thì Uỷ ban Thường vụ sẽ chìm ngập trong các yêu cầu (Trên thực tế, các đại biểu Quốc hội chưa hề phát hiện ra trường hợp không phù hợp nào).

Có một khoảng cách khá lớn giữa các quy định của pháp luật và việc thực thi hoạt động giám sát của Quốc hội ở Việt Nam. “Luật Giám sát 2003” và các văn bản pháp lý khác trao cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội nhiều quyền và công cụ giám sát. Phần lớn các quyền và công cụ này cho tới nay còn ít khi được sử dụng. Chúng ta có lý do để tin rằng việc xem xét lại tính thực tế của các quyền và công cụ này là cần thiết.

Trong tất cả các công cụ giám sát của Quốc hội, chất vấn và thảo luận báo cáo là các công cụ được sử dụng nhiều nhất. Chất vấn có vẻ là công cụ hiệu quả nhất của giám sát Quốc hội ở Việt Nam. Với các phiên chất vấn công khai, báo chí có thể đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả của công tác giám sát của Quốc hội.

Việc nghiên cứu làm sáng tỏ khái niện, phạm vi và nội dung hoạt động giám sát là rất cần thiết. Cần phát triển một khái niệm rõ ràng hơn về giám sát của Quốc hội. Trong số những vấn đề khác, qui mô giám sát của Quốc hội nên được thu hẹp lại; cần sử dụng các công cụ mang tính thực tế hơn; cần đưa ra các mục đích giám sát rõ ràng hơn; cần thành lập Thanh tra Quốc hội (Ombudsman), Kiểm toán lập pháp nếu muốn đạt được các mục đích của giám sát Quốc hội về các khía cạnh pháp lý và kinh tế.

(Thế sự một góc nhìn-TS Nguyễn Sĩ Dũng)

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK