NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT WTO- MỘT NĂM NHÌN LẠI
Cập nhật : 12:10 - 02/11/2010
Các chuyên gia nước ngoài tham gia hội thảo
Đến nay Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được khoảng một năm rưỡi. Thời gian đó là chưa nhiều, nhưng cũng cho thấy những vấn đề chúng ta đang phải đối mặt khi đã hoàn toàn hội nhập vào nền kinh tế thế giới và rút ra những bài học sơ bộ đầu tiên. Việt Nam đã vào trong sân chơi WTO, nghĩa là chúng ta đã phải tuân thủ những luật lệ của tổ chức này. Những cơ hội và thách thức- những tác động của việc gia nhập WTO đã hiện diện thực sự trong đời sống kinh tế, chính trị, pháp lý, xã hội của Việt Nam, chứ không còn đơn thuần là những phân tích mang tính dự báo nữa.

Trong bối cảnh đó, với vị thế của cơ quan đại diện cho lợi ích của quốc gia, của cử tri, Quốc hội phải là nơi đầu tiên cảm nhận được những biến đổi để cùng đánh giá, bàn thảo những đối sách thích hợp nhằm giảm thiểu những hiệu ứng tiêu cực và phát huy tác động tích cực của việc gia nhập WTO. Những câu hỏi hết sức cấp thiết được đặt ra là: Đánh giá các tác động đó như thế nào? Làm sao để việc thực thi các cam kết WTO giữ được lợi ích quốc gia, lợi ích của xã hội, cộng đồng? Thay đổi cách nghĩ, cách làm theo hướng nào? Các nước có những kinh nghiệm gì có thể học hỏi?

Bà Sinderla, nguyên thành viên ban thư ký WTO

Với ý nghĩa đó, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Ban Công tác đại biểu đã phối hợp với Dự án Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Ủy ban châu Âu tổ chức hội thảo “Những tác động của việc thực hiện các cam kết WTO-Một năm nhìn lại” tại Ninh Thuận trong hai ngày 1-2/7/2008. Các đại biểu Quốc hội đã nghe các chuyên gia trong nước và nước ngoài trình bày về các vấn đề liên quan. Cụ thể là, thứ nhất, GS.TS Trần Đình Thiên đã tiếp cận các khó khăn hiện nay như một cơ hội nhận diện những điểm yếu của hệ thống để cải cách triệt để hơn. Hơn một năm gia nhập WTO cho thấy, cỗ máy nhà nước chưa hoàn toàn sẵn sàng đối mặt với những khó khăn do nền kinh tế đã thông hoàn toàn với kinh tế thế giới. Mặt khác, khó khăn hôm nay là cơ hội cho một cuộc cải cách lớn về chiều sâu. Nhận diện đúng, trúng, toàn diện các nguyên nhân gây ra khó khăn sẽ giúp chúng ta tìm ta giải pháp phù hợp, có tầm nhìn lâu dài hơn.

Thứ hai, PGS. TS Hoàng Phước Hiệp cho rằng, việc gia nhập WTO đòi hỏi quan niệm khác về lập pháp: những khái niệm quen thuộc như thương mại, đầu tư, hợp đồng…đã có nội hàm mới; cần có sự phân biệt rõ hơn giữa luật công và luật tư; thay đổi từ cách làm luật “trong phòng kín” sang cách làm luật mở, có sự tham gia của công chúng; hoạt động lập pháp theo những quy chuẩn chung trên thế giới như phân tích chính sách, đánh giá tác động quy phạm pháp luật…

Thứ ba, minh bạch hóa pháp luật là một trong những yêu cầu lớn của WTO đối với pháp luật quốc gia. Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã nỗ lực đáp ứng yêu cầu này. Nhưng sau hơn một năm gia nhập, còn những gì phải tiếp tục thực hiện trên phương diện này, từ khi xây dựng pháp luật cho đến thực thi, áp dụng pháp luật? TS Nguyễn Sĩ Dũng đã giải đáp những câu hỏi này trong bài trình bày của mình. Có điều thú vị là minh bạch hóa cũng được nhấn mạnh đến rất nhiều trong các bài phát biểu của các diễn giả khác.

Thứ tư, khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền là một yêu cầu của WTO đối với luật pháp quốc gia. Thực tế phát triển cũng cho thấy, cạnh tranh lành mạnh là điều kiện thiết yếu để đạt được thịnh vượng. TS Đinh Thị Mỹ Loan cho rằng, Việt Nam phải tiếp tục hoàn thiện về mặt lập pháp, cải cách thể chế, thực thi hiệu quả để khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.

Bên cạnh đó, các chuyên gia nước ngoài cũng trình bày về các chuyên đề liên quan đến WTO với các nước đang phát triển. Thứ nhất, là một nước nông nghiệp, rất hữu ích cho các ĐBQH khi được nghe bà Sindelar, một chuyên gia đã có gần 30 năm làm việc trong Ban Thư ký của WTO và giúp đỡ các nước chuyển đổi gia nhập WTO nói về những quy định của WTO liên quan đến ngành nông nghiệp, những tác động của các quy định đó đối với ngành nông nghiệp của các nước đang phát triển, một số phương án lựa chọn cho các nước đang phát triển để thương lượng sửa đổi các quy định hiện hành của WTO về nông nghiệp trong khuôn khổ các vòng đàm phán Chương trình phát triển Doha hiện nay.

Thứ hai, GS Luật thương mại quốc tế Hallstrom đến từ Thụy Điển đã trình bày về những nguyên tắc hoạt động, các đặc điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, những khó khăn và cả cơ hội cho các nước đang phát triển khi đối mặt với cơ chế này. Để giảm thiểu những khó khăn và tận dụng các cơ hội do cơ chế đó mang lại, các nước đang phát triển đã làm gì và nên làm gì. Nói chung, đây là một cơ chế giải quyết tranh chấp tương đối thành công, được các nước - kể cả phát triển và đang phát triển – sử dụng nhiều. Trong khá nhiều trường hợp, các nước yếu thế hơn đã thắng kiện với cơ chế này. Tuy nhiên, các nước đang phát triển cũng phê phán, trên thực tế, các chủ thể hùng mạnh có lợi thế hơn trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Hiện nay cộng đồng thương mại quốc tế đang cùng nhau tìm cách thương lượng để hoàn thiện cơ chế này trong Chương trình phát triển Doha.

Cuối cùng, TS Vương Lỗi, vốn là thành viên đoàn đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc trong 10 năm, nay là luật sư tư nhân trong lĩnh vực luật thương mại đã chia sẻ kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thực hiện các yêu cầu của WTO đối với hệ thống pháp luật quốc gia. Theo ông, khó khăn trong khi đàm phán gia nhập cũng như trong quá trình đàm phán hiện nay không chỉ xuất phát từ bên ngoài, mà còn do sự e ngại và đôi khi là chống đối từ trong nước. Bài học của Trung Quốc dưới góc nhìn của ông Vương Lỗi là: không nên coi nhẹ, cũng đừng trầm trọng hóa gánh nặng WTO; mà hãy là một công dân tích cực, chủ động trong WTO; hãy sử dụng WTO như một kênh hiệu quả phát huy những con bài mình nắm trong tay, dù là nhỏ, để thương lượng từng chút một, hướng đến mục tiêu cuối cùng là lợi ích quốc gia.

Minh Thi

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK