Minh bạch hóa hệ thống pháp luật ở Việt Nam – yêu cầu từ thực tiễn
Cập nhật : 12:10 - 02/11/2010

* Lạm phát- Cơ hội đẩy mạnh cải cách

* Những tác động của việc thực hiện cam kết WTO- Một năm nhìn lại

Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập kinh tế thế giới, thời gian vừa qua, việc đảm bảo tính minh bạch của hệ thống pháp luật ở nước ta được đề cập đến nhiều như là một trong những yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động của nhà nước và là yêu cầu của việc thực hiện các cam kết quốc tế.

Là thành viên của WTO, cũng như các nước khác, Việt Nam phải đảm bảo pháp luật của nước mình phù hợp với những tiêu chuẩn chung của WTO. Do đó, các yêu cầu về tính minh bạch hệ thống pháp luật trong các Hiệp định và thỏa thuận của WTO trở thành các tiêu chuẩn mà pháp luật Việt Nam cần phải bảo đảm. Tương tự, Việt nam cũng phải bảo đảm thực hiện các quy định về minh bạch hóa trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và các thỏa thuận song phương hoặc đa phương khác mà Việt Nam đã ký kết.

Bởi thế, việc phân tích, làm rõ các khía cạnh của yêu cầu về minh bạch hóa hệ thống pháp luật trong các cam kết quốc tế; đánh giá thực trạng việc thực hiện minh bạch hóa trong hoạt động xây dựng, thực thi và áp dụng pháp luật ở nước ta; từ đó, đề xuất các giải pháp để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi vấn đề minh bạch hóa của hệ thống pháp luật luôn là một việc làm có ý nghĩa thiết thực.

 Minh bạch hóa trong khuôn khổ chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Trong số những mục tiêu và phương hướng phát triển của đất nước ta trong giai đoạn từ 2005 đến 2010 được xác định tại Đại hội Đảng lần thứ X có hai mục tiêu quan trọng là: phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Cả hai mục tiêu này đều đặt ra những yêu cầu cấp thiết phải thực hiện quá trình minh bạch hóa hệ thống pháp luật của nước ta, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Minh bạch hóa là một thuật ngữ pháp lý mới, được nhắc đến nhiều sau khi Việt Nam ký kết và thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và trong quá trình đàm phán, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới như là một yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, yêu cầu minh bạch hóa hệ thống pháp luật của Việt Nam không phải chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian gần đây mà còn xuất phát từ nhu cầu nâng cao hiệu quả của việc quản lý nhà nước, đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động của nhà nước. Thực tế, ngay từ thời kỳ đầu, nhà nước Việt Nam cũng đã có những chính sách đảm bảo tính công khai của hệ thống pháp luật cũng như đảm bảo quyền của nhân dân trong việc tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, thể hiện tính dân chủ của nhà nước mới theo chủ trương “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xác định bao hàm ý nghĩa đề cao vai trò pháp luật trong đời sống xã hội, mở rộng dân chủ, công khai hóa các lĩnh vực hoạt động nhà nước, trừ những lĩnh vực liên quan tới bí mật, an ninh quốc gia. Đồng thời, minh bạch hóa hoạt động của bộ máy nhà nước cũng là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa và phòng chống hiệu quả tệ nạn hối lộ, tham nhũng...

Việc cần phải công khai, minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đảm bảo tính dân chủ của nhà nước theo đó người dân có quyền được biết về các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

Thứ hai, chính sách và pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành đều xuất phát từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn và ngược lại, ảnh hưởng của các chính sách đó đến thực tiễn đòi hỏi các đối tượng chịu tác động của chính sách phải nắm bắt được nội dung của chính sách;

Thứ ba, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi không chỉ các cơ quan quản lý cần thông tin mà các doanh nghiệp, thể nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phải cập nhật thông tin nhiều hơn để phát triển sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tính minh bạch của các quy định của pháp luật còn bị chi phối bởi các điều ước quốc tế mà các quốc gia đã ký kết hoặc gia nhập;

Thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đòi hỏi Nhà nước không thể khép kín phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ các cơ quan mà phải mở rộng phạm vi thông tin đến các đối tượng có liên quan, đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các chính sách;

Thứ năm, công khai, minh bạch được thừa nhận là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa và phòng chống hiệu quả những tệ nạn của bộ máy quản lý nhà nước như hối lộ, tham nhũng…

Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại hóa cũng đề ra nhiều biện pháp về minh bạch hóa như: hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho người dân; bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật; tổ chức tốt việc lấy ý kiến nhân dân đối với văn bản trước khi ban hành; các văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải trên công báo hoặc yết thị, đưa tin để công dân và các tổ chức có điều kiện tìm hiểu, thực hiện; thông tin công khai cho người dân về chủ trương, chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công.

Ngoài ra, chính sách dân chủ ở cơ sở theo Chỉ thị số 30-CT/TW cũng nhằm mục tiêu đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị ở cơ sở theo đó chính quyền cấp xã, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm nhân dân trong xã, cán bộ, công chức trong cơ quan, người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước phải được biết, được tham gia ý kiến, được tham gia quyết định trực tiếp, được giám sát, kiểm tra một số vấn đề nhất định trong tổ chức.

Khái niệm minh bạch hóa trong các quy định của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

Trong quá trình tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là mở rộng giao lưu kinh tế, các nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài luôn yêu cầu Việt Nam tăng cường hơn nữa tính công khai minh bạch trong quá trình phát triển của mình. Nhiều hiệp định song phương và đa phương mà Việt Nam đã  ký kết, gia nhập đề cập rất rõ nét nghĩa vụ công khai minh bạch như Hiệp định thương mại (HĐTM) Việt Nam – Hoa Kỳ. Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào cuối năm 2006 và nét đặc trưng cơ bản nhất thể hiện trong các văn bản và tài liệu chính thức của WTO là sự thừa nhận ngày càng cao đối với nguyên tắc công khai minh bạch của hệ thống thương mại thế giới.

Nghĩa vụ bảo đảm tính công khai minh bạch trong các quy định của WTO không phải mang tính ngẫu nhiên hay áp đặt, mà nó xuất phát từ nhu cầu “gìn giữ các nguyên tắc và mục tiêu cơ bản của hệ thống thương mại đa phương” và thúc đẩy tự do hoá thương mại nhằm ngăn ngừa các biện pháp tuỳ tiện, không thích hợp được đặt ra trong các chính sách, luật pháp, quy định và các biện pháp hành chính của các quốc gia thành viên.

Với mục tiêu đó, nội dung về minh hoạch hóa trong các hiệp định và thỏa thuận của WTO bao gồm những quy định cơ bản như sau:

Thứ nhất, các quy định về nghĩa vụ yêu cầu các nước thành viên phải đăng tải tất cả các luật, quy định chung trước khi thực thi các luật, quy định chung này.

Thứ hai, các quy định yêu cầu các nước thành viên phải thông báo các chính sách có liên quan đến hoạt động thương mại của mình tới WTO và các nước thành viên;

Thứ ba, các quy định liên quan đến việc thực thi các quy định của nhà nước một cách nhất quán, đồng bộ, công bằng và hợp lý; và các quy định liên quan đến quyền được yêu cầu xem xét lại các quyết định trước khi thực thi.

Những nội dung này được quy định tại 10 hiệp định khác nhau của WTO như: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT, Hiệp định thương mại dịch vụ GATS, Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, Hiệp định về các biện pháp kỹ thuật, Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hóa, Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng, Hiệp định về các biện pháp tự vệ, Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và vệ sinh dịch tễ, Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại.

Nội dung cơ bản nhất về minh bạch hóa trong các quy định của WTO được thể hiện tại Điều X của GATT và Điều III của GATS, theo đó: Điều X của GATS đã định nghĩa chi tiết các quy tắc về “đăng tải và quản lý thực hiện các quy định về thương mại”; GATS cũng đã yêu cầu mọi quốc gia thành viên phải công bố kịp thời “tất cả các biện pháp áp dụng chung có liên quan” theo quy định của Hiệp định, đồng thời phải xây dựng các đầu mối liên hệ (equiry point) để trả lời các thắc mắc hoặc câu hỏi của các quốc gia thành viên về các thông tin có liên quan; GATT cũng yêu cầu các bên cần quản lý việc thực hiện tất cả các văn bản pháp luật và các quy định có liên quan một cách đồng bộ, khách quan và hợp lý, cũng như phải duy trì tất cả các cơ chế giám sát độc lập và phù hợp như cơ chế tố tụng tư pháp, trọng tài hay hành chính nhằm xem xét và điều chỉnh kịp thời các hoạt động hành chính có liên quan tới lĩnh vực thuế quan. Các hiệp định khác của WTO đều sử dụng chung một cách diễn đạt và đều phản ánh rất rõ ràng yêu cầu then chốt của Điều X, GATT về công bố và quản lý thực hiện các quy định về thương mại.

Tuy nhiên, đối với một số nước gia nhập WTO về sau, các cam kết về các vấn đề thương mại nói chung cũng như các cam kết về minh bạch hóa nói riêng không chỉ dừng ở mức các cam kết ở các Hiệp định và thỏa thuận của WTO mà có thể ở mức cao hơn (thường được gọi là “WTO +”). Ví dụ gần đây nhất là trường hợp của Trung Quốc. Ngoài việc tuân thủ các quy định bình thường của WTO về minh bạch hóa, kể cả Điều X GATT như bất kỳ nước thành viên nào khác, Trung Quốc còn phải thực hiện một số cam kết bổ sung trong Nghị định thư gia nhập WTO của mình như Trung Quốc phải cung cấp cho các nước thành viên WTO theo yêu cầu tất cả các văn bản luật, quy định dưới luật và các biện pháp khác liên quan hay ảnh hưởng tới thương mại hàng hóa, dịch vụ, TRIPS hay kiểm soát ngoại hối trước khi các biện pháp này được thi hành hay thực thi.

Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng có nhiều điều khoản về minh bạch hóa. Ngoài Chương VI “Các quy định liên quan tới tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện”, các chương khác của Hiệp định cũng đề cập tới vấn đề minh bạch hóa. Về cơ bản, Hiệp định phản ánh khá đầy đủ các nghĩa vụ về công khai minh bạch được đề ra trong các Hiệp định và Thoả thuận của WTO. Cụ thể, nội dung chủ yếu về minh bạch hóa trong Hiệp định bao gồm những yếu tố sau: i) minh bạch hóa văn bản quy phạm; ii) cho phép tiếp cận dữ liệu về nền kinh tế quốc dân và từng khu vực kinh tế; iii) tạo cơ hội đóng góp ý kiến đối với việc xây dựng các văn bản có tính áp dụng chung; iv) các văn bản pháp luật đã công bố mới được áp dụng; v) có tạp chí đăng tải chính thức văn bản; vi) duy trì cơ quan tài phán và thủ tục hành chính và tư pháp; và, vii) đảm bảo thủ tục cấp phép nhập khẩu tự động và không tự động được thực hiện minh bạch.

Tuy nhiên, các quy định của Hiệp định về minh bạch hóa được đánh giá là trực tiếp hơn, và rõ ràng hơn so với các quy định của WTO như trong việc tạo ra diễn đàn để hai Bên ký kết có thể đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản pháp luật, mở rộng cơ hội đóng góp ý kiến cho các công dân hay cá nhân của hai quốc gia ký kết mà không chỉ dừng lại ở cấp Chính phủ.

 Khuôn khổ pháp luật về minh bạch hóa và nỗ lực thực thi ở Việt Nam

Thực hiện các cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và trong khuôn khổ các văn bản pháp lý của WTO, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng khuôn khổ pháp luật về minh bạch hóa. Cụ thể, nội dung minh bạch hóa đã được thể chế ở nhiều văn bản pháp luật quan trọng như: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và  UBND năm 2004, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Nghị định về Công báo năm 2004. Về cơ bản, khuôn khổ pháp luật của nước ta ở chừng mực nhất định đã phù hợp với các yêu cầu của cam kết quốc tế như: quy định về quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 4, Điều 33, Điều 35, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật), quy định các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực sau khi đăng công báo (Điều 77, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật), quy định về việc công bố các điều ước quốc tế trên Công báo (Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế), quy định về tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử (Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự).

Các thiết chế nhà nước cũng có nhiều nỗ lực trong việc minh bạch hóa hoạt động của mình. Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội đã cố gắng thiết lập cơ sở pháp lý của việc minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền với người dân. Hoạt động của Quốc hội cũng từng bước được công khai, minh bạch. Trong hoạt động lập pháp, Quốc hội đã tiến hành lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo, đăng tải văn bản trên công báo và dịch văn bản ra các ngôn ngữ khác; trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước là việc Quốc hội thảo luận tập thể, công khai vấn đề phân bổ ngân sách trung ương. Trong hoạt động giám sát, những phiên chất vấn của Quốc hội tại hội trường đã thường xuyên được tường thuật trực tiếp trên truyền hành, truyền hình, góp phần làm minh bạch hoạt động của Quốc hội cũng như hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.

Đối với Chính phủ, việc công khai các chủ trương, chính sách về quản lý đất nước, quản lý xã hội là một trong những nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ, Quy chế làm việc của Chính phủ và các quy định về lề lối, phương thức làm việc của từng bộ, ngành của Chính phủ. Bên cạnh đó, đề án xây dựng Chính phủ điện tử đang được dần dần hoàn thiện; các quy trình, thủ tục hành chính được từng bước tin học hóa nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân và doanh nghiệp được thuận tiện, nhanh gọn; việc cung cấp thông tin về địa phương, thực hiện đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được công khai ở nhiều địa phương. Ngoài ra, Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Chính phủ quản lý ngày càng được nâng cao về chất lượng và số lượng, trở thành công cụ hữu hiệu thể hiện tính công khai, minh bạch các chính sách pháp luật và các quyết định quản lý của bộ máy nhà nước.

Ngành tòa án cũng có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc minh bạch hóa hoạt động xét xử. Điểm nổi bật trong những năm vừa qua là việc rà soát, đăng tải một số bản án điển hình trên tạp chí của ngành nhằm mục đích tăng cường sự thống nhất trong việc áp dụng luật pháp cũng như tăng cường khả năng dễ dự đoán của pháp luật đối với các đối tượng tham gia vào nền kinh tế, và củng cố thêm niềm tin của nhân dân, của các tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài và cộng đồng quốc tế vào các chính sách của Việt Nam. Cùng với đó, các cấp toà án đã tăng cường công khai hoạt động xét xử, nâng cấp, mở rộng phòng xử án, trang bị thiết bị truyền tin tạo điều kiện cho người dân có thể tham dự phiên toà. Luật sư được tạo điều kiện tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ vụ án ngay từ đầu. Việc tranh luận tại phiên toà được đổi mới theo hướng bảo đảm dân chủ, bình đẳng, khách quan, phán quyết của Toà án chủ yếu căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.

Môi trường kinh doanh ở Việt Nam cũng có nhiều cải thiện hướng tới mục tiêu minh bạch. Đó là việc bảo đảm quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến môi trường kinh doanh, đến quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp phải được lấy ý kiến tham gia của cộng đồng doanh nghiệp; là việc Thủ tướng Chính phủ tổ chức những cuộc gặp gỡ thường xuyên với các doanh nghiệp. Đối với đầu tư nước ngoài, Chính phủ cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc minh bạch hóa các cơ hội đầu tư, minh bạch và đơn giản hóa thủ tục cấp Giấy phép đầu tư (theo Luật đầu tư mới là Giấy chứng nhận đầu tư), minh bạch hóa hoạt động quản lý của nhà nước về đầu tư nước ngoài.

 Các vấn đề đặt ra trong việc thúc đẩy minh bạch hóa ở Việt Nam

Những thành tựu trên đã minh chứng cho sự nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm sự minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và trong so sánh tham chiếu với các cam kết song phương và đa phương của Việt Nam, nhất là với Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và với các quy định của Tổ chức thương mại thế giới, đặt ra một số vấn đề cần phải khắc phục để nâng cao tính minh bạch của hệ thống pháp luật và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở nước ta phù hợp với mục đích xây dựng nhà nước pháp quyền và yêu cầu của hội nhập quốc tế.

Trước hết, chưa có quy định rõ ràng về việc xác định thế nào là văn bản có giá trị áp dụng chung; chưa có quy định chặt chẽ và ràng buộc về việc văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải công khai trên Công báo thì mới có hiệu lực; chưa có các quy định cụ thể và rõ ràng về nghĩa vụ đăng tải các điều ước quốc tế trên công báo; chưa có các quy định rõ ràng về việc công bố số liệu thống kê, quy hoạch xây dựng, sử dụng đất; chưa có cơ chế để tổ chức cho nhân dân thường xuyên tham gia góp ý kiến vào việc soạn thảo văn bản, và đang tồn tại quá nhiều lần dự thảo luật, pháp lệnh trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Đối với hoạt động của Chính phủ, hiện tại chương trình xây dựng Chính phủ điện tử còn gặp một số khó khăn nhất định như: chưa có khuôn khổ pháp luật cho việc xây dựng Chính phủ điện tử theo đó người dân có thể dễ dàng truy cập đến các thông tin của Chính phủ và giao lưu trực tuyến với các cơ quan của Chính phủ; còn thiếu các chuyên gia, các chuyên viên về công nghệ thông tin để triển khai, vận hành; vấn đề “chia sẻ thông tin, chia sẻ văn hoá” chưa được nhận thức một cách toàn diện; các Bộ, ngành thường có xu hướng giữ thông tin cho mình, không muốn trao đổi, sử dụng công nghệ thông tin; mức độ sẵn sàng điện tử (e-readiness) của Việt Nam chưa cao.

Đối với hoạt động của Tòa án, cơ chế “tranh tụng”, một trong những cơ chế để tăng cường tính minh bạch trong hoạt động xét xử, chưa được quy định như là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử. Quy trình xác lập chứng cứ chưa được minh bạch hóa đầy đủ. Việc thực thi pháp luật tố tụng liên quan đến tính minh bạch của hoạt động toà án còn có những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến việc tổ chức các phiên tòa xét xử công khai. Trong thực tiễn tố tụng còn một số cán bộ toà án còn ngại minh bạch hoá hoạt động xét xử. Việc công khai bản án, quyết định của toà án, pháp luật mới dừng lại ở việc tuyên án công khai tại phiên toà và giao bản án cho những người có liên mà chưa tạo điều kiện cho giới nghiên cứu khoa học pháp lý muốn tiếp cận bản án, quyết định của toà án một cách thường xuyên, thuận tiện.

 Một số kiến nghị

Để tiếp tục nâng cao tính minh bạch của hệ thống pháp luật và tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các chính sách và khuôn khổ pháp luật.

Trước hết, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần xác định rõ những thể loại văn bản có giá trị áp dụng chung; quy định rõ tiêu chí những dự án luật, pháp lệnh bắt buộc phải được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân hoặc xây dựng cơ chế để công chúng có thể thường xuyên tham gia ý kiến vào các dự án, dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật; quy định các điều ước quốc tế phải được đăng tải công khai (chứ không phải được” như hiện nay), trừ một số trường hợp nhất định. Bên cạnh đó, quy trình ban hành các văn bản pháp quy cũng cần được hoàn chỉnh để ngăn chặn việc ban hành các văn bản trái quy định chung hoặc thực hiện không nghiêm các quy định của Chính phủ. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng liên quan đến hoạch động xét xử của tòa án theo hướng rõ ràng, rành mạch, minh bạch hoá việc xác lập chứng cứ và hoàn thiện chế định tranh tụng tại phiên toà.

Thứ hai, cần có những giải pháp thực thi có hiệu quả những quy định của pháp luật trên thực tế. Cần thực hiện tốt việc phản hồi ý kiến đóng góp của nhân dân đối với các dự án văn bản được công bố lấy ý kiến; tổ chức địa điểm liên lạc (enquiry point) để liên hệ, tiếp nhận thông tin, xử lý các ý kiến góp ý kiến, nhất là đối với các dự thảo pháp luật thương mại có liên quan đến nhiều nước khác nhau.

Tổ chức và hoạt động của Công báo cũng cần phải cải tiến nhằm bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong việc công bố và đăng văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo. Hệ thống Công báo ở các địa phương cũng cần được nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện. Hiện tại, thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBDN, một số tỉnh đã bắt đầu xây dựng hệ thống công báo của địa phương để đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương như Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ ba, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng Chính phủ điện tử, công cụ thông tin qua mạng Intranet và xác lập mối quan hệ tương tác giữa người dân, doanh nghiệp với Chính phủ thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại.

Thứ tư, tiếp tục tăng cường tính minh bạch trong hoạt động xét xử. Trong nhóm giải pháp này, yêu cầu cấp thiết nhất vẫn là việc triển khai việc đăng tải các bản án, quyết định của Toà án. Để thực hiện được vấn đề này, cần phải có chính sách đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác công bố các văn bản của toà án; chuẩn hoá hình thức soạn thảo của tất cả các loại quyết định; định ra các yêu cầu và loại quyết định về loại vụ việc nào của toà án cần được công bố; tỷ lệ các quyết định phải được công bố từ cấp Hội đồng Thẩm phán tới toà án cấp huyện.

 Thứ năm, tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng cường tính minh bạch môi trường đầu tư kinh doanh. Việc minh bạch hóa môi trường kinh doanh, đặc biệt đối với môi trường đầu tư, là một yêu cầu cấp thiết và là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hiện nay. Để làm được điều đó, trong thời gian tới Việt Nam cần nâng cao tính minh bạch trong việc xây dựng quy hoạch phát triển các ngành và vùng lãnh thổ; cần công bố rõ ràng các lĩnh vực cấm đầu tư để các nhà đầu tư được đầu tư vào tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế mà pháp luật không hạn chế hoặc cấm; bảo đảm tính minh bạch và hiệu qủa trong việc áp dụng các ưu đãi đầu tư; tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư và nâng cao hiệu quản lý nhà nước về đầu tư, nâng cao trách nhiệm và tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành, công khai mọi quy trình, thời hạn, trách nhiệm xử lý các thủ tục đầu tư nước ngoài.

(Hội thảo Những tác động của việc thực hiện cam kết WTO- Một năm nhìn lại)

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK