Chủ trì thẩm tra, phối hợp thẩm tra – những vẫn đề cần chi tiết
Cập nhật : 12:10 - 02/11/2010

Thực tế hiện nay, quy trình thẩm tra dự án luật theo quy định của pháp luật của Quốc hội đang được áp dụng gồm 3 giai đoạn:

·         Chuẩn bị thẩm tra dự án luật;

·         Tiến hành thẩm tra dự án luật;

·         Soạn thảo báo cáo thẩm tra dự án luật.

Trong 3 giai đoạn trên thì giai đoạn tiến hành thẩm tra là giai đoạn quan trọng nhất vì nó phản ánh được hiệu quả của giai đoạn chuẩn bị và là tiền đề để xây dựng được báo cáo thẩm tra. Việc thẩm tra một dự án luật sẽ trả qua hai công đoạn: thẩm tra sơ bộ và thẩm tra chính thức. Ở công đoạn thẩm tra sơ bộ việc thẩm tra sẽ do thường trực Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra tiến hành. Ở công đoạn thẩm tra chính thức, việc thẩm tra sẽ được tiến hành tại phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra.

Việc thực hiện thẩm tra đối với cơ quan của Quốc hội chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra như vậy đã được quy định khá rõ ràng, tuy nhiên đối với những cơ quan của Quốc hội chịu trách nhiệm tham gia phối hợp thẩm tra thì việc tham gia thẩm tra và khi nào tham gia phối hợp thẩm tra vẫn còn là 1 quy trình chưa được làm rõ.

Trên thực tế, việc tham gia phối họp thẩm tra mới chỉ được thực hiện tại các phiên họp do cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra tổ chức họp và gửi giấy mời các cơ quan phối hợp tham gia. Tại các cuộc họp này cũng chỉ có một đại diện thường trực Ủy ban phối họp thẩm tra tham dự và phát biểu ý kiến, nhưng điểm hạn chế là do thời gian rất ngắn từ khi nhận được giấy mời tham dự họp cũng như hạn chế về tài liệu gửi trước nên những ý kiến đóng góp vào nội dung cần thẩm tra nhiều khi không được chuẩn bị đầy đủ, có khi không được thể hiện bằng văn bản. Đại diện tham gia họp phối hợp thẩm tra có lúc chỉ ở cấp đại biểu chuyên trách của Ủy ban và có lúc chỉ là một chuyên viên của Vụ phục vụ Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban có trách nhiệm tham gia phối hợp thẩm tra. Vì những lý do này cho nên hiệu quả phối hợp thẩm tra vẫn chưa đạt được hiệu quả như mục tiêu đề ra và cũng là lý do cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra có thể tiếp thu hoặc không tiếp thu những ý kiến do đại diện cơ quan phối hợp thẩm tra đưa ra tại các phiên họp. Ngoài ra việc phản hồi việc tiếp thu các ý kiến của các cơ quan phối hợp thẩm tra cũng là một vấn đề trong việc phối hợp thẩm tra, ở một góc độ khác đây cũng chính là nguyên nhân khiến các cơ quan tham gia phối hợp không thực hiện hết trách nhiệm thẩm tra những nội dung liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình phụ trách trong nội dung của dự án luật đang được phối hợp thẩm tra.

Trước những vấn đề nêu trên thì giải pháp cho những vấn đề nêu trên là gì và thực hiện như thế nào. Theo ý kiến cá nhân, có thể thực hiện một số giải pháp sau:

·         Về tổng thể, cần quy định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chịu trách nhiệm tham gia phối hợp thẩm tra dự án luật vào nội dung của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

·         Đối với cơ quan của Quốc hội chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án luật, pháp lệnh cần tiến hành họp với các cơ quan quan tham gia phối hợp thẩm tra. Tại cuộc họp này các bên sẽ thống nhất chương trình các công việc và thời gian thực hiện các vấn đề liên quan đến việc thẩm tra dự án luật như: thời gian dự kiến tiến hành thẩm tra sơ bộ, thẩm tra chính thức... Cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì thẩm tra cũng phải chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến dự án luật, pháp lệnh cần thẩm tra tới các cơ quan phối hợp thẩm tra vào thời gian sớm nhất có thể để các cơ quan phối hợp có thời gian nghiên cứu để có những ý kiến đóng góp về những nội dung thuộc lĩnh vực mình quản lý. Ngoài ra cơ quan chủ trì thẩm tra cũng phải có trách nhiệm thông báo tới Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh danh sách các cơ quan phối hợp thẩm tra.

·         Về phía cơ quan tham gia thẩm tra, cần nhìn nhận việc tham gia phối hợp thẩm tra một cách có trách nhiệm hơn. Cụ thể các ý kiến thẩm tra tới nội dung thuộc lĩnh vực mình quan lý trong nội dung dự án luật, pháp lệnh cần được thể hiện dưới dạng văn bản để gửi tới cơ quan chủ trì thẩm tra. Việc cử đại diện tham gia các cuộc họp thẩm tra phải là thường trực của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban để đảm bảo tính đại diện. Ngoài những nội dung thuộc lĩnh vực mình quản lý, cơ quan tham gia phối hợp cũng có thể đưa ra những ý kiến khác về nội dung dự án luật, pháp lệnh đang được thẩm tra. Cơ quan tham gia phối hợp thẩm tra cũng hoàn toàn có quyền thực hiện các cuộc họp, hội thảo, hội nghị lấy ý kiến chuyên gia để nâng cao về “chất” cho những ý kiến gửi tới cơ quan chủ trì thẩm tra.

 ·         Về kinh phí, khi xây dựng kinh phí thẩm tra dự án luật, pháp lệnh cần có phần kinh phí cho việc tham gia phối hợp thẩm tra và phân bổ phần kinh phí này tới các cơ quan tham gia phối hợp thẩm tra. Việc này sẽ giúp cho cơ quan phối hợp thẩm tra thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trong việc tham gia thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, đặc biệt là khi cần tổ chức các hội thảo, hội nghị lấy ý kiến chuyên gia.

Trên đây là một số nhận xét và ý kiến cá nhân về việc phối hợp thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh. Hy vọng qua bài viết này sẽ nhận được nhiều ý kiến phản hồi từ các nhà nghiên cứu để phần nào giúp cho quá trình làm luật của Quốc hội có thể mạnh và tốt hơn.

Nguyễn Thọ Luân

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK