Tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa Vụ Công tác đại biểu và Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử
Cập nhật : 12:10 - 02/11/2010

Cùng với những đổi thay mạnh mẽ về kinh tế của đất nước, người đại biểu nhân dân đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng là cầu nối giữa cử tri và các cơ quan Nhà nước, là nơi gửi gắm tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Để có bản lĩnh thực hiện trọng trách của mình, người đại biểu dân cử không chỉ cần có sẵn tâm huyết và ý thức trách nhiệm, mà còn cần được rèn luyện năng lực và kỹ năng hoạt động. Bởi vậy, công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đại biểu dân cử ngang tầm đòi hỏi của việc thực hiện nhiệm vụ cần được thực hiện thường xuyên và liên tục. Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử được Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quyết định thành lập tại Quyết định số 514/QĐ-VPQH ngày 10 tháng 11 năm 2004, với vị trí là đơn vị chuyên môn đảm trách nhiệm vụ giúp lãnh đạo Văn phòng Quốc hội điều phối và tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn cho đại biểu dân cử.

Ngày 31 tháng 01 năm 2008, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 575/UBTVQH12 về chức năng, nhiệm vụ của Ban Công tác đại biểu, trong đó quy định Ban Công tác đại biểu có chức năng “tổ chức việc trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoạt động của đại biểu dân cử”. Trong đó, Vụ Công tác đại biểu và Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử cùng là đơn vị giúp việc cho Ban.

Trong thời gian tới, mong muốn hai đơn vị gắn kết hơn nữa trong sự chỉ đạo chung của Ban Công tác đại biểu trong việc nghiên cứu, phát triển chương trình, nội dung, phương pháp bồi dưỡng theo mục tiêu cố gắng mang đến những chương trình bồi dưỡng thiết thực, hữu ích, phù hợp đối với đại biểu dân cử.

 Trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dài hạn và hàng năm về bồi dưỡng kỹ năng hoạt động của đại biểu dân cử

Từ trước đến nay, việc tổ chức các chương trình giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động cho ứng cử viên và đại biểu Quốc hội mới được bầu cũng như việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân do Trung tâm Bồi dưỡng dân cử thực hiện theo quyết định của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Thực tế khóa XI, đồng chí Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội kiêm giữ chức Phó Trưởng ban Công tác đại biểu, do vậy, sự phối hợp giữa Trung tâm với Vụ Công tác đại biểu trong việc xây dựng chương trình bồi dưỡng tuy không nhiều, nhưng vẫn có đầu mối chung nên hoạt động bồi dưỡng đại biểu dân cử đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng ghi nhận.

Trong thời gian tới, với tư cách là đơn vị trực tiếp giúp Ban Công tác đại biểu theo dõi hoạt động và giữ mối liên hệ với các đại biểu Quốc hội, đồng thời giúp Ban phục vụ Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, Vụ Công tác đại biểu sẽ nắm bắt được nhu cầu bồi dưỡng của đại biểu, cũng như thời điểm cần bồi dưỡng để phối hợp với Trung tâm xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng cho phù hợp. Ví dụ, theo Luật Ngân sách năm 2002, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10 tháng 12 năm trước, như vậy tại kỳ họp thường kỳ cuối năm, các đại biểu sẽ tiến hành biểu quyết thông qua dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh. Nếu chương trình bồi dưỡng tập trung vào các vấn đề về kinh tế, ngân sách, hiệu quả thu được sẽ thiết thực hơn.

Vụ Công tác đại biểu có trách nhiệm giúp Ban Công tác đại biểu xây dựng Đề án chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, trong đó có việc xây dựng cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội. Qua phân loại các hồ sơ ứng cử, Vụ Công tác đại biểu sẽ nắm chắc được nghề nghiệp, chức vụ, trình độ của từng ứng cử viên. Bên cạnh đó, hàng năm, Vụ Công tác đại biểu đều xây dựng Báo cáo tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong đó đánh giá các mặt hoạt động của đại biểu, đồng thời đề xuất các biện pháp tăng cường năng lực cho các đại biểu Quốc hội và các chuyên viên Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội. Trên cơ sở đó, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp với từng loại đối tượng này.

Vụ và Trung tâm sẽ tập trung phân loại đối tượng tập huấn để thiết kế chương trình bồi dưỡng phù hợp với đại biểu chuyên trách, đại biểu kiêm nhiệm, đại biểu được bầu lần đầu, đại biểu tái cử. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân, cần chú ý phân loại các đơn vị với đặc thù vùng, miền, khu vực, các đại biểu ở nông thôn, ở các đô thị, đại biểu miền núi, vùng đồng bào dân tộc và các khu vực biên giới… để thiết kế chương trình linh hoạt hơn với nội dung thiết thực hơn. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu thì một yêu cầu cấp thiết là phải nâng cao năng lực của Bộ máy giúp việc cho đại biểu. Cần quan tâm nhiều hơn đến việc bồi dưỡng cho cán bộ, chuyên viên giúp việc tại các cơ quan dân cử với mục tiêu hướng đến là xây dựng đội ngũ chuyên gia thạo việc, thực sự hữu ích trong công tác tham mưu.

Trong việc biên soạn tài liệu, chuẩn bị chương trình, hình thức bồi dưỡng các kỹ năng hoạt động của đại biểu

Qua kinh nghiệm rút ra từ hoạt động theo dõi, hướng dẫn hoạt động đối với đại biểu Quốc hội, Vụ Công tác đại biểu thấy rằng hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau. Nhưng, một trong những yêu cầu để đại biểu hoạt động có hiệu quả là yêu cầu đại biểu phải nắm vững và luôn luôn nâng cao kỹ năng hoạt động của mình. Trong thời gian tới, Vụ Công tác đại biểu cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử trong việc biên soạn tài liệu, chuẩn bị chương trình, hình thức bồi dưỡng các kỹ năng hoạt động đối với đại biểu dân cử. Chương trình bồi dưỡng cần đặc biệt quan tâm đến bồi dưỡng kỹ năng gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của đại biểu, giảm bớt các vấn đề lý thuyết. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, kỹ năng tiếp xúc cử tri. Đây là kỹ năng rất quan trọng của đại biểu Quốc hội. Vì giữ mối liên hệ với cử tri, chịu giám sát của cử tri, tiếp xúc với cử tri là một trong những nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội đã được Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật khác quy định.

Ngoài việc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp theo quy định, đại biểu có thể gặp gỡ cử tri, tìm hiểu về vấn đề mình quan tâm hoặc ngược lại, cử tri tìm đến đại biểu để kiến nghị một số vấn đề nào đó, hoặc tiếp xúc cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc tổ chức. Kỹ năng tiếp xúc cử tri bao gồm: chọn địa bàn, đối tượng và thời điểm; chuẩn bị nội dung phát biểu; cách ghi chép, tổng hợp và xử lý các ý kiến cử tri.

Thứ hai, kỹ năng tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đây là kỹ năng quan trọng giúp đại biểu dân cử thực hiện tốt chức năng đại diện của mình. Việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị phải bảo đảm khách quan, chính xác, phân loại theo từng lĩnh vực, rà soát các ý kiến đã nêu nhiều lần, những ý kiến, kiến nghị đã được giải quyết, trả lời, những ý kiến, kiến nghị tiếp tục đưa vào báo cáo…. Việc chọn lọc thông tin là rất quan trọng. Kênh thông tin chính là ý kiến, kiến nghị của cử tri tại các cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp Quốc hội, kỳ họp Hội đồng nhân dân. Ý kiến, kiến nghị của cử tri qua tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực. Ngoài ra, đại biểu cần bao quát được rộng rãi các kênh thông tin khác ở địa phương, như: thư từ, kiến nghị của cử tri; ý kiến của cử tri được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, những kiến nghị của Hội đồng nhân dân, UBND, các cơ quan, tổ chức, các ngành, các cấp nêu lên…

Thứ ba, kỹ năng xử lý thông tin để tham gia ý kiến vào các báo cáo, đề án và các vấn đề thuộc nội dung kỳ họp. Đại biểu Quốc hội có thể thu thập rất nhiều nguồn thông tin khác nhau, sau đó tổng hợp, phân loại, chọn lọc các thông tin cần thiết, so sánh ý kiến đóng góp với những quy định hiện hành (để những ý kiến, kiến nghị mà mình lựa chọn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp). Cuối cùng là lựa chọn cách phát biểu ý kiến bằng văn bản hay phát biểu trực tiếp tại các buổi họp, phiên họp của Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban Quốc hội hoặc tại Hội nghị Đại biểu chuyên trách, tại kỳ họp Quốc hội.

Thứ tư, kỹ năng chất vấn. Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội đã được quy định. Muốn sử dụng chất vấn như một công cụ giám sát hữu hiệu thì đại biểu Quốc hội cần nắm vững một số kỹ năng bao gồm: cách thức phân biệt chất vấn với câu hỏi thường; cách thức xây dựng một chất vấn; cách thức trình bày chất vấn.

 Trong thực tế, chất vấn cũng có thể được thể hiện dưới dạng một câu hỏi. Nhưng chất vấn khác câu hỏi thường về cơ sở pháp lý, về mục đích, về phạm vi quan hệ và về hậu quả pháp lý. Muốn xây dựng một chất vấn thì trước hết, đại biểu phải thu thập đầy đủ thông tin về vấn đề chất vấn. So sánh, lựa chọn vấn đề cần chất vấn. Pháp luật cũng đã quy định trách nhiệm của người trả lời chất vấn: chất vấn ai thì người đó trả lời; khi trả lời cần đi thẳng vào nội dung chất vấn, không trả lời chung chung.

Thứ năm, kỹ năng giám sát văn bản. Để thực hiện tốt quyền giám sát các văn bản thì các đại biểu Quốc hội cần được chuẩn bị tốt các kỹ năng về thu thập văn bản để làm căn cứ giám sát. Bên cạnh đó, kỹ năng xử lý văn bản cũng là bước rất quan trọng để xác định nội dung vi phạm của văn bản. Xử lý văn bản cần bám sát nội dung cả văn bản, đi sâu phân tích các quy định trong văn bản, đồng thời so sánh với các quy định liên quan của Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên. Trên cơ sở đó phân loại và xác định mức độ vi phạm để có hình thức kiến nghị phù hợp.

Thứ sáu, kỹ năng góp ý xây dựng dự án luật. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Cùng với sự đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả các mặt hoạt động, trong những năm gần đây, hoạt động lập pháp của Quốc hội đã được tăng cường nhưng chưa đạt so với chương trình đề ra. Thực tế đó yêu cầu các cơ quan của Quốc hội và đặc biệt là đại biểu Quốc hội cần tham gia tích cực hơn nữa, có hiệu quả hơn nữa vào công tác này. Nhưng muốn tham gia có hiệu quả vào hoạt động lập pháp thì đại biểu Quốc hội cần được trang bị đầy đủ kỹ năng góp ý xây dựng dự án luật. Bao gồm kỹ năng thu thập xử lý thông tin và kỹ năng trình bày ý kiến xây dựng dự án luật.

Thạc sĩ Trần Văn Tám,

Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu

 

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK