Kỹ năng chất vấn của đại biểu dân cử
Cập nhật : 11:29 - 18/03/2012
GS.Nguyễn Minh Thuyết ĐBQH khóa XIIGS.Nguyễn Minh Thuyết ĐBQH khóa XII

Chất vấn là là hoạt động giám sát đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử và trách nhiệm của các đại biểu dân cử với cử tri của mình, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp ngày càng thu hút sự quan tâm, theo dõi của cử tri, của cộng đồng và xã hội. Thông qua chất vấn, trả lời chất vấn, những mong muốn, bức xúc của cử tri được làm rõ địa chỉ trách nhiệm, nguyên nhân và hướng khắc phục. Khi trình độ đại biểu và trình độ dân trí ngày càng cao, hoạt động chất vấn tại kỳ họp không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng.

Chọn vấn đề chất vấn: Về ngữ nghĩa, “chất vấn” là “hỏi và đề nghị giải thích rõ về điều gì, việc gì”. Trong việc lựa chọn vấn đề chất vấn, đại biểu nên lựa chọn các vấn đề liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của mình. Sự thông thạo kiến thức chuyên môn là một lợi thế lớn giúp cho các đại biểu phản ứng nhanh hơn với các diễn biến trong quá trình thực hiện quyền chất vấn. Đối với mỗi đại biểu - trong nhiều vấn đề có thể lựa chọn - thường tập trung chất vấn vào những vấn đề mình cảm thấy bức xúc nhất. Những vấn đề này cũng thường là mối quan tâm của công chúng, có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa có tính thời sự, vừa có tính lâu dài, được người dân quan tâm. Một câu hỏi hay không nên rườm rà, dài dòng mà phải sát với thực tiễn, sát với cuộc sống, đi thẳng vào vấn đề, đi kèm là quy ra trách nhiệm thuộc về ai.

Một nội dung chất vấn được nhiều người quan tâm, nghĩa là vấn đề mà đại biểu theo đuổi sẽ nhận được hậu thuẫn không nhỏ từ công chúng cũng như từ các đồng nghiệp. Sự hỗ trợ này có ý nghĩa rất lớn để có một cuộc chất vấn thành công. Mặt khác, vấn đề được chọn phải là những vấn đề có thông tin khá đầy đủ, chính xác. Hạn chế việc chọn và đi sâu vào những vấn đề nóng nhưng chưa có thông tin đầy đủ - khi các cơ quan chức năng còn đang làm rõ, chưa có biện pháp xử lý khả thi hoặc những vấn đề quá chi tiết, không mang tính phổ biến.

Chọn đối tượng trả lời chất vấn: Đi cùng với việc chọn vấn đề thì việc chọn người trả lời chất vấn có đáp ứng được mong đợi của đại biểu, của người dân hay không là công việc quan trọng, có tính quyết định sự thành công của cuộc chất vấn. Do vậy, việc lựa chọn vấn đề chất vấn liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn đối tượng bị chất vấn. Xác định người đứng đầu cơ quan nào, phải chịu trách nhiệm ra sao đối với một bức xúc đang tồn tại  là một điều khá khó khăn. Ở đây, trước khi đặt câu hỏi chất vấn, đại biểu phải giải quyết hai câu hỏi: thứ nhất, vấn đề đó có xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay không, và thứ hai, vấn đề đó thuộc trách nhiệm của cơ quan nào.

Trình bày nội dung chất vấn thực chất là trình bày một câu hỏi và yêu cầu người bị chất vấn giải đáp. Nhưng khác với dạng các câu hỏi của một thính giả đối với một diễn giả thông thường, các câu hỏi chất vấn của đại biểu thường hướng đến việc xác định trách nhiệm (chính trị và pháp lý) của người đứng đầu cơ quan quản lý nên đại biểu thường phải diễn giải thêm các vấn đề liên quan đến nội dung chất vấn. Tuy vậy, nếu quá dài dòng, không đi thẳng vào vấn đề cũng có thể làm cho người trả lời chất vấn cũng như người nghe không hiểu được thực chất của vấn đề. Do đó, để chất vấn có hiệu quả, các câu hỏi nên ngắn gọn, đủ thông tin, chỉ nên đề cập sâu đến một vấn đề và có sự kết nối với những trình bày trước đó của người bị chất vấn. Trong trình bày nội dung chất vấn, đại biểu cần thêm một số kỹ năng khác chẳng hạn như việc lựa chọn sử dụng ngôn từ, sử dụng giọng nói, ngôn ngữ cơ thể một cách hiệu quả có thể làm nội dung trình bày trở nên sinh động hơn. Một điều đáng chú ý khác là nội dung chất vấn được nêu ra ở phiên họp toàn thể, bởi vậy, khi trình bày nội dung chất vấn, đại biểu cũng nên chú ý các đồng nghiệp đang ngồi trong hội trường bằng các ngôn ngữ, cử chỉ hoặc một sự diễn giải hướng đến họ.

Chất vấn và trả lời chất vấn suy cho cùng là để tìm ra bản chất của vấn đề và đưa ra hướng xử lý phù hợp; do đó, cần có sự thẳng thắn, có tính xây dựng, có lý lẽ và thực tiễn thuyết phục, không cần thiết tạo áp lực hay có thái độ gay gắt, căng thẳng, quá lời. Việc thực hiện đúng lúc và hiệu quả quyền chất vấn để có được câu trả lời từ phía người được hỏi cũng là cách đại biểu thể hiện rõ trách nhiệm của mình đối với những nỗi niềm mà cử tri muốn bày tỏ. Qua hoạt động này, đại biểu và cử tri cũng có thông tin hơn, chia sẻ và cộng đồng trách nhiệm hơn đối với những vấn đề lớn, khó để cùng chung tay giải quyết./.

Thanh Văn

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK