Quyền tự do hội họp trong pháp luật của một số quốc gia
Cập nhật : 17:10 - 22/10/2018

1. Cộng hòa Pháp
Hiến pháp Pháp chỉ đề cập đến quyền đình công mà không có quy định cụ thể về quyền hội họp hòa bình. Tuy nhiên, quyền hội họp hòa bình có thể suy ra từ Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền 1789, văn kiện được xem là một cấu phần của Hiến pháp Cộng hòa Pháp hiện hành. Điều 10 tuyên ngôn khẳng định “không ai bị làm phiền vì ngôn luận hay tôn giáo, chừng nào việc biểu hiện ra bên ngoài của họ không làm ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng thiết lập bởi pháp luật”. Thêm vào đó, quyền hội họp hòa bình cũng được bảo đảm bởi Công ước Châu Âu về quyền con người mà Pháp là thành viên.

Từ năm 1935, ở Pháp, các cuộc hội họp nơi công cộng phải thông báo trước cho chính quyền. Thông báo phải được gửi đến văn phòng quận trưởng hoặc tòa thị chính của địa phương nơi diễn ra biểu tình hoặc hội họp tối thiểu 3 ngày và không quá 15 ngày trước ngày biểu tình hoặc hội họp.

Liên quan tới thẩm quyền cấm biểu tình, quận trưởng hoặc thị trường có thể cấm việc biểu tình nếu họ tin rằng biểu tình sẽ gây rồi trật tự công cộng. Biểu tình hòa bình cơ bản phải được cho phép, nếu một cuộc biểu tình bị cấm, người tổ chức biểu tình có thể khiếu nại lên tòa hành chính, nơi sẽ xác định việc ngăn cấm là cần thiết để bảo vệ an ninh và trật tự công cộng hay không.

2. Cộng hòa Ý
Theo Hiến pháp Ý, công dân có quyền hội họp hòa bình, phi vũ trang và đây là một quyền hiến định. Quyền hội họp hòa bình được ghi nhận với tư cách là một quyền con người ở Ý và được  bảo vệ bởi cả luật pháp quốc tế và trong nước.

Hiến pháp Ý phân biệt giữa những cuộc hội họp tổ chức tại địa điểm riêng tư và địa điểm mở cửa cho công chúng với những cuộc hội họp tại địa điểm công cộng.

Đối với những cuộc hội họp được tổ chức tại địa điểm riêng tư và địa điểm mở cửa cho công chúng (như sân vận động và nhà hát), người tổ chức không bị đòi hỏi phải thông báo trước với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với những cuộc hội họp ở địa điểm công cộng, Hiến pháp Ý không đòi hỏi người tổ chức phải xin phép mà chỉ cần thông báo trước cho những cơ quan có thẩm quyền – cơ quan này có thể cấm những cuộc hội họp như vậy ví lý do được chứng minh là vì an ninh và an toàn cộng đồng. 

Chủ thể có thẩm quyền có thể giải tán cuộc hội họp ở nơi công cộng hoặc những nơi mở cửa cho công chúng nếu có tiếng la hét hoặc những biểu hiện gây nổi loạn, phá hủy uy tín của những chủ thể có thẩm quyền, đe dọa trật tự công cộng và sự an toàn của công dân, hoặc khi tội phạm được thực hiện trong quá tình hội họp.

Nhân viên giữ trật tự công cộng, nhân viên cảnh sát hoặc nhân viên được ủy quyền khi nhân viên giữ trật tự công cộng không có mặt, có thể yêu cầu những người trong một cuộc hội họp không được cấp phép phải giải tán. Nếu yêu cầu giải tán không được tuân theo, việc giải tán đám đông có thể được thực hiện thông qua 3 thông báo chính thức, mỗi thông báo được báo hiệu trước bằng một hồi kèn trumpet. Nếu những người tham gia không để ý hiệu lệnh, những nhân viên nêu trên có thể giải tán cuộc hội họp bằng vũ lực. Phản kháng lại lệnh giải tán có thể bị bắt hoặc phạt tiền.

Việc mang các loại súng và vũ khí vào trong các cuộc hội họp công khai mà không có sự cho phép từ chủ thể có thẩm quyền đều bị cấm. Người nào có giấy phép sử dụng vũ khí cũng bị cấm mang vũ khí đến những cuộc hội họp công khai.

3. Tây Ban Nha
Hiến pháp Tây Ban Nha cũng thừa nhận quyền hội họp hòa bình, phi vũ trang mà không cần xin phép trước. Tuy nhiên, đối với những cuộc biểu tình và mít tinh ở nơi công cộng thì phải có thông báo trước đến chủ thể có thẩm quyền, những người có thể ra lệnh cấm khi có cơ sở chắc chắn về việc những sự kiện này có thể gây rối trật tự công cộng, gây nguy hiểm cho người và tài sản. Trong trường hợp này, người tổ chức phải thông báo bằng văn bản đến chính quyền địa phương ít nhất 10 ngày và không quá 30 ngày trước sự kiện.

4. Vương quốc Anh
Đạo luật về nhân quyền năm 1988 của Anh quy định mọi người ở Vương quốc Anh đều có những tự do và các quyền căn bản, liên kết chặt chẽ Công ước Châu Âu về quyền con người với luật nội địa của Anh. Các quyền này bao gồm quyền tự do biểu đạt và quyền hội họp hòa bình và liên kết người khác. Hạn chế đối với quyền này được quy định theo luật và là cần thiết cho xã hội dân chủ. Đạo luật không ngăn cấm cảnh sát, lực lượng vũ trang, hoặc công chức hành chính khỏi việc thực thi những hạn chế theo pháp luật đối với quyền hội họp hòa bình và tự do hiệp hội.
Giới hạn đối với diễu hành và hội họp công khai được quy định bởi Đạo luật về trật tự công cộng 1986. Đạo luật này cũng cho phép cảnh sát áp dụng điều kiện đối với cả diễu hành và hội họp công khai nếu họ tin chắc chắn rằng sẽ có sự mất trật tự công cộng, hủy hoại tài sản hoặc mục đích của cuộc diễu hành là đe dọa người khác.

5. Thụy Điển
Quyền hội họp hòa bình, để phản đối hoặc tổ chức những cuộc mít tinh về tôn giáo được bảo vệ theo Hiến pháp Thụy Điển. Bên cạnh đó, Thụy Điển đã gia nhập Công ước Châu Âu về quyền con người, bởi vậy có những giới hạn bởi những luận điểm giải thích Công ước liên quan đến hội họp hòa bình.
Quyền hội họp và quyền phản đối chỉ có thể bị giới hạn bởi sự cần thiết để bảo vệ hòa bình và an ninh trong suốt cuộc hội họp, vì lý do giao thông, an ninh quốc gia, hoặc để ngăn chặn bệnh dịch. Hội họp công khai được quy định trong đạo luật về trật tự công cộng. Những người tổ chức phải thông báo trước hoặc nhận được sự cho phép từ phía cảnh sát, tùy thuộc loại hội họp. Chỉ có một số các cuộc hội họp công khai được miễn phải xin phép và thay vào đó chỉ cần thông báo đến cảnh sát trước 1 tuần diễn ra sự kiện.

TTBD

Tham khảo:
Viện chính sách công và pháp luật, Đào Trí Úc – Vũ Công Giao – Lê Thúy Hương đồng chủ biên, “Tự do hội họp trong luật nhân quyền quốc tế”, NXB Hồng Đức, 2017


 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK