Kinh nghiệm quốc tế trong phòng chống tham nhũng ở khu vực tư nhân
Cập nhật : 9:16 - 20/11/2017

 

 

Tham nhũng hiện nay không chỉ tồn tại tại khu vực công mà là tệ nạn, căn bệnh chung của toàn xã hội, không phân biệt khu vực công hay khu vực tư. Tham nhũng trong khu vực tư nảy sinh trong các mối quan hệ: Thứ nhất, trong mối quan hệ với khu vực công (hối lộ quan chức nhà nước hoặc liên kết giữa khu vực công với khu vực tư để thực hiện hành vi tham nhũng); thứ hai, tham nhũng xảy ra trong bản thân khu vực tư (trong nội bộ doanh nghiệp tư hoặc giữa các doanh nghiệp tư). Trên thế giới, tham nhũng trong khu vực tư thường được giới hạn trong các hoạt động kinh tế, tài chính, thương mại hoặc các hoạt động kinh doanh.  

Ở một số quốc gia, hối lộ trong giao dịch kinh doanh bị coi là phạm pháp. Những biện pháp chống tham nhũng có tác dụng mạnh nhất là những văn bản pháp lý trong nước của công ty cấm hối lộ.

Các công ty của Mỹ đi tiên phong trong chương trình này bằng việc tuân thủ Luật các hành vi tham nhũng nước ngoài (FCPA). Theo đó, các công ty Mỹ có thể bị khởi kiện nếu liên quan tới những hành vi tham nhũng ở bên ngoài nước Mỹ. Từ năm 1977, Luật FCPA đã cấm các công ty Mỹ được đưa hoặc nhận các khoản tiền  cho các quan chức chính phủ ở nước ngoài. Nếu vi phạm, các công ty sẽ phải chịu mức phạt lên tới 02 triệu USD, người đứng đầu công ty có thể bị ngồi tù tối đa 05 năm hoặc bị phạt 10.000 USD hoặc bị cả hai hình phạt.

Tại Singapore, Luật chống tham nhũng quy định hành vi bị coi là phạm tội tham nhũng sẽ phải chịu phạt tiền đến 100.000 đôla Singapore hoặc bị phạt tù đến 05 năm hoặc phải chịu cả hai hình phạt đó. Nhưng nếu một người có các hành vi tham nhũng và bị áp dụng xử lý theo các khung hình phạt trên mà liên quan đến hợp đồng hay một đề nghị về hợp đồng với một bên tham gia là chính phủ, cơ quan nhà nước thì hình phạt tù được áp dụng sẽ lên 07 năm.

Người nào vì muốn giành được quyền ký kết hợp đồng với chính phủ hay một cơ quan nhà nước để có được hợp đồng dịch vụ, cung cấp hạng mục…, mà đưa hối lộ cho người đã giành ưu tiên cho việc ký kết hợp đồng cho người khác do có động cơ cá nhân để hủy bỏ lời hứa hẹn này; hoặc người nào đòi hoặc nhận hối lộ để can thiệp vào công vụ, vì vụ lợi mà tự ý hủy hợp đồng thì cũng bị coi là phạm tội, có thể bị phạt tiền lên 100.000 đôla Singapore, phạt tù đến 7 năm tù hoặc chịu cả hai hình phạt trên.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng đã xây dựng Công ước Ngăn chặn hối lộ công chức nước ngoài trong giao dịch kinh doanh quốc tế. Theo đó, Công ước quy định: Mỗi bên (ký kêt) sẽ thực hiện các biện pháp có thể cần thiết để xác lập một quy tắc rằng luật pháp nước đó, một người mà cố tình đề xuất, hứa hẹn hoặc cho những khoản tiền quá lớn hay những lợi thế khác, trực tiếp hoặc thông qua các trung gian với một công chức nước ngoài, cho công chức đó hoặc cho một bên thứ ba để công chức này hành động  hoặc tránh hành động có liên quan tới việc thực thi những nhiệm vụ chính thức, nhằm có được hay giữ được công việc kinh doanh hay những lợi thế không hợp lệ khác trong việc điều hành hoạt động kinh doanh quốc tế. Có thể thấy Công ước đã công khai cấm những cơ chế hối lộ liên quan tới bên thứ ba.

Sau khi gia nhập OECD và ký kết Công ước về chống tham nhũng của OECD vào tháng 12.1997, Hàn Quốc cũng đã ban hành Luật Ngăn chặn hối lộ công chức nước ngoài trong giao dịch quốc tế (FBPA) vào tháng 12.1998. Việc Hàn Quốc ký kết và thực thi Công ước về chống tham nhũng của OECD góp phần tạo áp lực ở cấp quốc gia thông qua hình sự hóa tội hối lộ, đồng thời góp phần làm trong sạch các giao dịch kinh doanh trong khu vực công lẫn khu vực tư. Theo FBPA, bất cứ người nào cố ý đề nghị, hứa hoặc tặng bất cứ khoản tiền hay lợi ích bất chính khác cho công chức nước ngoài, nhằm giành được hay duy trì việc kinh doanh hay lợi thế không đúng đắn khác trong việc tiến hành hoạt động kinh doanh quốc tế, sẽ phải chịu hình phạt tương đương được áp dụng với người hối lộ công chức trong nước. Họ có thể bị phạt tù tối đa 5 năm hoặc chịu mức phạt 20 triệu won. Hơn nữa, trong trường hợp lợi nhuận thu được thông qua hành vi phạm tội vượt quá 10 triệu won, người đưa hối lộ sẽ phải chịu hình phạt tù tối đa 5 năm hoặc chịu mức phạt tiền cao gấp đôi so với lợi nhuận có được. Điều 4 của FBPA đặt ra trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi hối lộ công chức nước ngoài. Trong trường hợp đại diện, đại lý, người lao động hay người nào khác làm việc cho pháp nhân thực hiện hành vi hối lộ liên quan đến hoạt động kinh doanh, pháp nhân đó phải chịu mức phạt tiền lên đến 1 tỷ won, bên cạnh việc áp đặt hình phạt đối với bị cáo. Trong trường hợp lợi nhuận giành được thông qua hành vi phạm tội vượt quá 500 triệu won, pháp nhân phải chịu mức phạt tiền cao gấp đôi số lợi nhuận.

Một trong những biện pháp được áp dụng rộng rãi ở các quốc gia trong công tác phòng chống tham nhũng, đó là quy trách nhiệm cho pháp nhân. Pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh tối cao về hình sự của Pháp năm 1690, sau đó đã bị xóa bỏ vào cuối thế kỷ XX. Đây được coi là biện pháp quản trị sớm trong quản trị công ty. Nguyên tắc này được thể hiện lại trong luật pháp của Anh, Mỹ, Australia, Canada. Nhật cũng áp dụng nguyên tắc này vào những năm 1980. Nguyên tắc này cũng đã được đề cập trong Công ước OECD nhưng không phải là nguyên tắc phổ biến. Nguyên tắc trách nhiệm hình sự của pháp nhân được coi là then chốt cho việc xúc tiến quá trình tự quản của khu vực tư nhân. Mặc dù luật pháp các nước vẫn chủ yếu tập trung vào khởi tố trách nhiệm hình sự của cá nhân, ngay cả trong trường hợp bị khởi tố cũng không có nghĩa là trách nhiệm hình sự của cá nhân sẽ được miễn hay giảm nhẹ.

Nhiều quốc gia đã có các biện pháp quản lý doanh nghiệp và nâng cao ý thức đạo đức kinh doanh trong khu vực tư bằng cách đưa ra các biện pháp kỹ thuật và các chuẩn mực đạo đức vào trong quy chế doanh nghiệp. Tại Úc, Chính phủ đã ban hành các quy định điều chỉnh hoạt động kế toán doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ và các yêu cầu về công khai thông tin liên quan. Đồng thời, quy định các cơ chế để giám sát việc thực thi các quy định này liên quan đến hoạt động kiểm tra thường xuyên sổ sách của các công ty và kiểm toán độc lập. Chính phủ và chính quyền các bang của Úc cũng tích cực thúc đẩy các việc nâng cao ý thức đạo đức doanh nghiệp. Cơ quan chống tham nhũng đóng vai trò chủ động trong việc xây dựng các quy tắc đạo đức, tuân thủ và tổ chức đào tạo; tổ chức các cuộc hội thảo, phổ biến, hướng dẫn các doanh nghiệp các biện pháp phòng chống tham nhũng. Nhiều doanh nghiệp cũng đã áp dụng các biện pháp nâng cao đạo đức trong doanh nghiệp như xây dựng quy tắc đạo đức của doanh nghiệp, thành lập các bộ phận đặc trách về tuân thủ đạo đức.

Tại Bulgari, doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong việc góp phần giải quyết thực trạng tham nhũng, đặc biệt nạn hối lộ và tống tiền. Nước này đã xây dựng liên minh công – tư trong cuộc chiến chống tham nhũng với tên gọi Liên minh 2000. Liên minh 2000 gồm nhiều thành phần nhà nước như quan chức cao cấp của Chính phủ, nghị sĩ, thẩm phán, lãnh đạo công đoàn, đại diện doanh nghiệp tư nhân và đối tác nước ngoài. Liên minh này mỗi năm họp một lần dưới hình thức diễn đàn chính sách nhằm đưa ra các sáng kiến phòng chống tham nhũng. Tổ chức này đã tham gia tích cực vào Chiến lược chống tham nhũng quốc gia và trở thành một nhân tố quan trọng trong cơ chế quản trị minh bạch ở Bulgari.

Ở Nga, diễn đàn doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập để tạo ra cầu nối giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với Chính phủ. Thông qua hoạt động thường niên, thành viên của diễn đàn sẽ phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình đến Chính phủ. Hàng năm, chính phủ Liên bang Nga thực hiện nhiều cải cách liên quan đến hệ thống các cơ quan thuế, hải quan, đấu thầu nhằm hạn chế việc tham nhũng, đưa nhận hối lộ hay gây khó khăn cho doanh nghiệp. Nga cũng thiết lập cổng thông tin doanh nghiệp chống tham nhũng dựa trên mạng giải pháp minh bạch toàn cầu. Thông qua đó, các doanh nghiệp có thể báo cáo, tố cáo, phản ánh những khó khăn khi tiếp xúc với các cơ quan công quyền trong hoạt động kinh doanh.

Một số quốc gia thành viên Công ước UNCAC đã áp dụng các quy định về phòng chống xung đột lợi ích áp dụng đối với khu vực tư. Các quy định được áp dụng nghiêm cấm các doanh nghiệp ký kết các hợp đồng đối với các đối tác “sân sau” của các nhà quản lý, điều hành trong doanh nghiệp nhằm hạn chế tối đa sự lạm quyền trong cạnh tranh ở khu vực tư nhân.

Một yếu tố cũng rất quan trọng trong vấn đề kiểm soát và quản trị nội bộ, đó là sự tự giác của chính tầng lớp lãnh đạo của công ty, tập đoàn. Phần lớn các công ty, tập đoàn lớn trên thế giới đều coi lừa đảo, tham nhũng là những rủi ro và đều nhận thức sâu sắc rằng các hành vi tham nhũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp của họ.

Có thể thấy, phòng chống tham nhũng trong khu vực tư chỉ có thể đạt được hiệu quả khi có sự thống nhất về nhận thức chung trong xã hội. Khi khu vực tư nhận thức rõ những tác hại mà tham nhũng có thể gây ra đối với doanh nghiệp và nên kinh tế, họ sẽ chủ động, tích cực xây dựng cơ chế phòng ngừa và kế hoạch thực hiện có hiệu quả. Cơ chế phòng ngừa tham nhũng trong nội bộ doanh  nghiệp cần được xây dựng và thực hiện song song với kế hoạch phát triển và là phần không thể thiếu trong định hướng phát triển của doanh nghiệp.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK