• Giám sát tối cao của Quốc hội là giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Đặc trưng này được xác định bởi vị trí và tính chất của chủ thể giám sát là Quốc hội. Quốc hội thực hiện quyền giám sát như một khâu, một yếu tố của quyền lực nhà nước, không tách rời với quyền lực nhà nước. Quyền giám sát tối cao được nhân dân thực hiện thông qua cơ quan đại diện cho ý chí của mình.
  • Thực hiện chủ trương đổi mới, cùng với việc tăng cường hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước trong mấy năm gần đây, hoạt động giám sát của Quốc hội đã được đẩy mạnh, chất lượng từng bước được nâng cao. Nhưng cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề yêu cầu các cơ quan nhà nước, mà trước hết là Quốc hội phải tiếp tục nâng cao trách nhiệm và hiệu quả
  • Quốc hội Khóa XII sắp kết thúc. Nhiệm kỳ này chỉ có 4 năm nhưng hoạt động lập pháp đã thu được kết quả khá toàn diện cả về số lượng lẫn chất lượng. Cùng với các khóa QH trong thời kỳ đổi mới, QH khóa XII đã góp phần xây dựng được một hệ thống pháp luật, về cơ bản đã điều chỉnh bao quát hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Từ tổ chức bộ máy nhà nước, quyền c
  • Việc nghiên cứu nội dung Báo cáo thẩm tra và nâng cao hiệu quả hoạt động thẩm tra đòi hỏi chúng ta phải xem xét đến các yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiêp tới chất lượng Báo cáo thẩm tra. Có nhiều yếu tố tác động tới chất lượng Báo cáo thẩm tra, trong đó phải kể đến những yếu tố sau:
  • Từ sau Hiến pháp năm 1992, đặc biệt là trong những năm gần đây, công tác thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội ngày càng đi vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả thiết thực. Về cơ bản, nhiều Báo cáo thẩm tra đã xem xét, đánh giá các dự án luật, pháp lệnh về tính khoa học, sự phù hợp với thực tiễn, phù hợp với chủ trương, chí
  • Trước năm 1997, hoạt động thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh được tiến hành theo Quy chế xây dựng luật, pháp lệnh (năm 1988), Luật tổ chức Quốc hội (1992), Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và Quy chế hoạt động của các Uỷ ban của Quốc hội (1993). Trong các văn bản này còn chưa có quy định cụ thể về các nội dung cần thiết của Báo cáo thẩm tra.
  • Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội cần có sự nỗ lực của bản thân Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan Nhà nước khác và phải có các yếu tố bảo đảm cho hoạt động đó.
  • Hoạt động thẩm tra của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội là khâu quan trọng bảo đảm chất lượng và hiệu quả của hoạt động lập pháp của Quốc hội. Trong thời gian qua, cùng với sự đẩy mạnh hoạt động lập pháp của Quốc hội, hoạt động thẩm tra của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban đã từng bước được cải tiến. Để góp phần đổi mới hơn nữa quy trình lập pháp của Quốc hội, ph
  • Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã trực tiếp góp phần xác lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động lập pháp, lập quy, đưa công tác xây dựng pháp luật của Nhà nước ta ngày càng đi vào nền nếp; đặc biệt là đã tạo ra bước ngoặt trong hoạt động xây dựng và ban hành luật của Quốc hội.
  • Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh là một khâu quan trọng và bắt buộc trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh. Kết quả của hoạt động này được thể hiện bằng hình thức báo cáo thẩm tra. Đây là cơ sở rất quan trọng để Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có căn cứ để xem xét thông qua các dự án luật, pháp lệnh một cách toàn diện, có chất lượng, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và
Tin đã đưa
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK