Hiến pháp và pháp luật Việt Nam không trực tiếp sử dụng khái niệm “chức năng đại diện”, nhưng đã quy định rõ : Đại biểu Quốc hội phải thực hiện nhiều công việc cụ thể cho thấy sứ mệnh nặng nề- đại diện cho lợi ích của quốc gia và của cử tri. Trong khi đó, nhận thức, kiến thức cách thức thực thi sứ mệnh này còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử thuộc Ban Công tác đại biểu đã tổ chức biên soạn cuốn sách Gắn bó để đại diện cho cử tri nhằm góp phần hỗ trợ các đại biểu thực hiện chức năng đại diện. Cuốn sách cố gắng kết hợp hài hòa giữa lý luận với thực tiễn, trong đó nghiêng về cách viết có tính thực tế nhiều hơn, với nhiều ví dụ từ hoạt động phong phú của đại biểu dân cử.
Tên sách Gắn bó để đại diện cho cử tri xuất phát từ một câu nói của đại biểu dân cử : “mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri là mối liên hệ huyết mạch”. Đại biểu chỉ có thể thực hiện sứ mệnh đại diện đã được Hiến pháp quy định khi giữ được mối liên hệ cá nhân gắn bó mật thiết với cử tri. Đồng thời, tên sách nhấn mạnh, cần đặt mối liên hệ với cử tri trong ngữ cảnh rộng hơn của chức năng đại diện, lúc đó mối liên hệ mới trở nên gắn bó mật thiết hơn.
Nói một cách ngắn gọn, bốn chương của cuốn sách được sắp xếp theo lôgic nhưu sau : Vì chức năng đại diện của đại biểu Quốc hội rất nặng nề, dù theo quan niệm nào đi chăng nữa (Chương I); cho nên phải có những điều kiện nhất định, nhưung trên thực tế những điều kiện đó còn hạn chế (Chương II); trong hoàn cảnh đó, Quốc hội và Đại biểu Quốc hội đã cố gắng cải tiến những hình thức hiện có (Chương III), biết cách áp dụng những kỹ năng thực tế (Chương IV) để thực hiện chức năng đại diện đó.
Cụ thể, Chương I từng bước giới thiệu các khái niệm căn bản nhất về chủ quyền nhân dân, dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, sự “ủy quyền”. Đại biểu được trao quyền hành xử với sự tin tưởng của cử tri và vì vậy đại biểu phải có nghĩa vụ đại diện cho cử tri. Chương này cũng so sánh những vấn đề có tính lý luận về chức năng đại diện ở nghị viện các nước với vai trò đại diện ở Quốc hội nước ta.
Chương II, bàn về các điều kiện nhận thức, thể chế và vật chất để cơ quan dân cử và nhất là từng đại biểu có thể thực hiện được vai trò đại diện đã đề cập ở Chương I một cách hiệu quả. So với những điều kiện cần phải có trên lý thuyết, Chương II trình bày những khó khăn thực tế hiện nay của ĐBQH như : những xung đột lợi ích với cơ quan hành chính ngành dọc cấp trên, khó khăn trong sinh hoạt tại đoàn ĐBQH địa phương, khó khăn trong tìm kiếm tư liệu và lập luận, khó khăn trong việc tự do phát biểu quan tâm của mình…
Chương III cho thấy, trong bối cảnh còn những khó khăn do quan niệm, điều kiện, các thiết chế của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội đã có những cải tiến các hình thức giữ mối liên hệ với cử tri trong các kỳ họp, giữa các kỳ họp, sinh hoạt đằng sau nghị trường và thậm chí những cuộc giao lưu với cử tri ngay nơi đại biểu cư trú hay làm việc. Đó là các hoạt động đa dạng mà ĐBQH phải thể hiện vai trò đại diện của mình và giúp ĐBQH giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri.
Chương IV tiếp tục nối mạch của Chương III đã đúc kết những bài học về kỹ năng thực hiện chức năng đại diện của ĐBQH, giữ mối liên hệ với cử tri trong hoàn cảnh còn khó khăn về quan niệm và điều kiện. Đó là lựa chọn chính sách, đưa vấn đề ra nghị trường, lắng nghe, thương lượng, truyền thông cho tới cân bằng lợi ích.