Tin Hội nghị “Kỹ năng phân tích chính sách dành cho đại biểu dân cử” tại Vũng Tàu, ngày 20-22/12/2017
Cập nhật : 15:16 - 25/12/2017

 

Tiếp theo thành công của Hội nghị “Kỹ năng phân tích chính sách dành cho đại biểu dân cử” tại Sapa, từ ngày 20-22/12/2017, tại thành phố Vũng Tàu, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử tổ chức  hội nghị thứ hai với cùng nội dung dành cho các đại biểu khu vực phía Nam.

Hội nghị “Kỹ năng phân tích chính sách dành cho đại biểu dân cử” tại Vũng Tàu có sự tham dự của hơn 120 đại biểu, thành phần bao gồm: đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại diện Thường trực HĐND, đại biểu Hội đồng nhân dân, công chức Văn phòng Đoàn ĐBQH, Văn phòng HĐND của 24 tỉnh/Thành phố trong cả nước. Đồng chí Bùi Đức Thụ, Phó Trưởng Ban Công tác đại biểu đã khai mạc và chủ trì Hội nghị.

Hội nghị “Kỹ năng phân tích chính sách dành cho đại biểu dân cử” tập trung vào những nội dung chính sau đây:

Chuyên đề 1: Tổng quan về phân tích chính sách trong hoạt động của cơ quan dân cử

Chuyên đề này đề cập đến những nội dung chính như sau: Khái niệm chính sách, phân tích chính sách; ý‎ nghĩa của phân tích chính sách trong hoạt động của cơ quan dân cử; cơ sở pháp lý, quy định pháp luật (chủ yếu trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) về phân tích chính sách; thời điểm để phân tích chính sách; các chủ thể thực hiện phân tích chính sách.

Chuyên đề 2: Thu thập và xử lý thông tin phục vụ phân tích chính sách

Chuyên đề này tập trung vào kỹ năng thu thập khai thác thông tin cho hoạt đông phân tích chính sách của đại biểu dân cử như:

- Những loại thông tin cần thu thập khi phân tích chính sách; sự khác nhau giữa thông tin phục vụ phân tích tính hiệu quả của chính sách với thông tin đánh giá tác động của chính sách.

- Những yêu cầu đối với thông tin trong phân tích chính sách như: tính hữu ích; tính khoa học, tính khách quan của các thông tin được cung cấp; thông tin mới góp phần hình thành kiến thức hoặc cơ sở cho quá trình ra quyết định.

- Phương pháp thu thập và chọn lọc thông tin trong giai đoạn phân tích chính sách cũng như đánh giá chính sách.

- Các kỹ năng cần thiết khi tiến hành xử lý thông tin trong giai đoạn phân tích chính sách.

Chuyên đề 3: Quy trình và nội dung phân tích chính sách

Chuyên đề này tập trung vào những nội dung chính liên quan đến quy trình thực hiện phân tích chính sách trong hoạt động của cơ quan dân cử như: Các bước phân tích chính sách (theo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm: xác định vấn đề chính sách bất cập, xác định mục tiêu, đề ra các phương án, đánh giá và lựa chọn phương án); phương pháp phân tích chính sách; tổ chức phân tích chính sách trong hoạt động của cơ quan dân cử.

Trong chuyên đề này nhấn mạnh kỹ năng phân tích tính phù hợp của chính sách; tính khách quan của chính sách; điểm mạnh, điểm yếu của chính sách đã ban hành hoặc dự kiến ban hành; xem xét tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật.

Chuyên đề 4: Phân tích tác động của chính sách

Nội dung của chuyên đề này tập trung đánh giá tác động tích cực, hạn chế, trực tiếp, gián tiếp của chính sách; tác động của chính sách trên các phương diện về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa; đối tượng thụ hưởng chính sách, đối tượng chịu ảnh hưởng khi chính sách được ban hành; dự báo phản ứng của xã hội, các nhóm đối tượng hưởng thụ và chịu tác động của chính sách; đảm bảo điều kiện cần và đủ khi thực hiện chính sách; lựa chọn thời điểm để ban hành chính sách; các chủ trương và giải pháp thực hiện.

Chuyên đề 5: Phân tích tính hiệu quả của chính sách

Chuyên đề này đề cập đến kỹ năng dự báo hiệu quả của giải pháp chính sách dự kiến; kỹ năng phân tích hiệu quả của chính sách đang được thực hiện ở các góc độ như: Đánh giá tính khả thi trong quá trình thực hiện chính sách; phân tích đối chiếu chi phí với lợi ích do chính sách mang lại; khả năng thực hiện chính sách của các cơ quan nhà nước về biện pháp thực hiện, nhân lực và đặc biệt là về ngân sách để triển khai thực hiện chính sách; ảnh hưởng tiêu cực, tích cực đối với NSNN, nền tài chính quốc gia.

Ở mỗi chuyên đề, ngoài thời gian trình bày, các báo cáo viên còn chuẩn bị các bài tập thực hành liên quan đến nội dung trình bày, trên cơ sở các vấn đề chính sách đang diễn ra. Chính phần thực hành này được các đại biểu tham dự đánh giá cao bởi tính thiết thực, sát thực tế và giúp đại biểu thực sự được thực hành, diễn tập, thu thập thêm kinh nghiệm, giúp nâng cao năng lực của đại biểu trong hoạt động hàng ngày.

 

 

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK