Về công tác tuyêntruyền, nâng cao nhận thức về phát triển văn hóa
Đảng và Nhà nước thường xuyên nắm bắt dư luận xãhội để có những giải pháp định hướng đúng đắn, kịp thời, phát huy mặt tích cực,mặt đồng thuận, hạn chế những tác động tiêu cực, trái chiều. Tiến hành công táctuyên truyền và cách thức tuyên truyền văn hóa thông qua các tác phẩm điệnảnh, sân khấu, biểu diễn nghệ thuật, dân ca, ca vũ, báo chí, xuất bản phẩm,tuyên truyền cổ động, triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh... nhằm lôi cuốn các tầnglớp trong xã hội. Chủ động nắm bắt tư tưởng, tâm trạng, thái độ của đội ngũ cánbộ, nhân viên, văn nghệ sĩ trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảmcủa đất nước hay của chính lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; hạn chế mặt bất đồng,tiêu cực, tăng tính đồng thuận, đồng tình, tích cực.
Tuyên truyền, phổbiến đường lối, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa cho mọi đốitượng sáng tác và thụ hưởng dưới các hình thức đa dạng từ hội nghị, tập huấn,bồi dưỡng… đến các hình thức sản phẩm văn hóa, nghệ thuật như tiểu phẩm sânkhấu, phim ngắn, âm nhạc…
Các cơ quan đượcĐảng, Nhà nước giao làm công tác chỉ đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ[1] cósự phối hợp chặt chẽ, kịp thời có những biện pháp chấn chỉnh, định hướng chođội ngũ văn nghệ sĩ, các nhà khoa học nghiên cứu, sáng tác những tác phẩm phêphán các biểu hiện sai lệch chuẩn mực đạo đức và thông tin kịp thời về nhữngvấn đề phức tạp để đất nước ngày càng phát triển an toàn, bền vững.
Về xây dựng và hoànthiện hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở
Hệ thống thiết chếvăn hóa, thể thao các cấp từng bước được hoàn thiện, góp phần triển khai cóhiệu quả công tác tuyên truyền, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, vănhóa xã hội của đất nước. Số lượng thiết chế văn hóa, thể thao các cấp được đầutư xây dựng chưa đồng đều, tài một số địa phương đạt và vượt mục tiêu đề ra; cơchế, chính sách về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực cho cácthiết chế đã từng bước được quan tâm; kinh phí hoạt động từng bước được nânglên; nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao có nhiềuthay đổi phù hợp với điều kiện thực tế, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinhthần, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thúc đẩy quá trình phát triển kinhtế - xã hội của địa phương. Tính đến hết tháng 3 năm 2023, cả nước có 66 thiếtchế văn hoá cấp tỉnh là trung tâm văn hóa[2]; 689/705 quận, huyện cóTrung, tâm Văn hoá - Thể thao hoặc Nhà Văn hoá, đạt tỷ lệ khoảng97,7%, trong đó có 471 đạt chuẩn (tỷ lệ 66,8%); 8.207/10.598 xã, phường, thịtrấn có Trung tâm Văn hoá - Thể thao, đạt tỷ lệ 77,4% trong đó có 5.625đạt chuẩn (tỷ lệ 53%); 69.070 trong tổng số 90.508 làng, thôn, bản, ấp… cóNhà Văn hoá, đạt tỷ lệ khoảng 76,3% trong đó có 44.836 đạt chuẩn (tỷ lệ49,5%).
Về lĩnh vực thưviện và phát triển văn hóa đọc
Đọc trực tuyến thôngqua sách điện tử, tài nguyên số đang là xu thế đọc của người trẻ tuổi, nhưngviệc đọc sách in truyền thống vẫn tồn tại song hành cùng sách điện tử, đang làmđa dạng thêm văn hóa đọc và phương tiện tiếp cận của người sử dụng. Thiết chếthư viện đã và đang xây dựng theo hướng thư viện truyền thống kết hợp thư việnđiện tử/ thư viện số phục vụ sự lựa chọn khác nhau của mỗi đối tượng đọc, đồngthời, thực hiện tốt nhiệm vụ là nơi lưu giữ, phổ biến các giá trị tư liệu đápứng các nhu cầu đọc, học tập, trao đổi, sáng tạo, giải trí của các tầng lớpnhân dân.
Cả nước đã xây dựngđược mạng lưới thư viện công cộng,thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở giáo dục, thư viện lực lượng vũ trangtừng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động gắn phát triển văn hóa đọcvới học đường, phục vụ các đối tượng đặc thù khác nhau... Các chỉ số về hoạtđộng thư viện đã có sự tăng trưởng so với giai đoạn trước. Quá trình chuyển đổisố ngành thư viện đang được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành và nhucầu của bạn đọc.
Về công tác bảo vệvà phát huy di sản văn hóa
Nhiều giá trị vănhóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và pháttriển. Công tác xã hội hoá hoạt động bảo tồn di tích cũng đã huy động đượcnhiều nguồn lực xã hội. Tính đến năm 2022, cả nước có 32 di sản văn hóa đượcUNESCO ghi danh, trong đó có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới; 15 disản văn hóa phi vật thể[4]; 3di sản tư liệu thế giới, 6 di sản tư liệu khu vực Châu Á - Thái BìnhDương. Có hơn 40 nghìn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã đượckiểm kê. Trong đó, số di tích xếp hạng có 123 di tích quốc gia đặc biệt; 3.602di tích quốc gia; hơn 10.000 di tích cấp tỉnh, thành phố; 238 bảo vật quốcgia,… Trên cả nước, có 194 bảo tàng, trong đó có 128 bảo tàng công lập và 66bảo tàng ngoài công lập đang lưu giữ hơn 3 triệu hiện vật, phản ánh toàn diệnvề đất nước và con người Việt Nam trong tiến trình lịch sử. Các di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và các bảotàng là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệthuật đồng thời là môi trường thực hành văn hóa, tham quan, học tập của nhândân; là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch quốc tế. Thời gian qua, hoạt độngbảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa tại một số các di tích và bảo tàng đãcó những kết quả đáng kể, vừa giữ gìn được các giá trị văn hóa truyền thống,vừa góp phần phát triển du lịch, kinh tế - xã hội địa phương.
Về mỹ thuật, nhiếpảnh và triển lãm
Đến năm 2022, cảnước có một số bảo tàng chuyên ngành về mỹ thuật như Bảo tàng Mỹ thuật ViệtNam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng,Bảo tàng Mỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế. Bên cạnh hệ thống cơ sở bảo tàng, nhàtrưng bày, có nhiều bộ sưu tập tư nhân, đặc biệt là ở khu vực thành phố Hà Nội,Huế và Hồ Chí Minh. Các bộ sưu tập tư nhân về mỹ thuật bao gồm cả lĩnh vực mỹthuật cổ truyền và mỹ thuật hiện đại. Nhiều tỉnh, thành phố đã được đầu tư xâydựng và nâng cấp quy mô các nhà triển lãm văn học nghệ thuật như Hà Nội, HảiPhòng, Nam Định, Nghệ An, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.
Về công trình mỹthuật tượng đài, tranh hoành tráng, so với giai đoạn trước đã có sự phát triểnrõ rệt. Nếu như trước đây, tượng đài ở các tỉnh, thành phố trong nước chủ yếuđược xây dựng bằng chất liệu bê tông có kích thước nhỏ; ít nhân vật; thiếu tínhhoành tráng, bền vững thì tượng đài được sáng tác trong khoảng 15 năm trở lạiđây phần lớn đã được sử dụng bằng chất liệu bền vững và có quy mô khá lớn. Cảnước đã xây dựng được hàng trăm công trình tượng đài, tranh hoành tráng[5]. Cáccông trình tượng đài, tranh hoành tráng đã xây dựng chủ yếu là tượng kỷ niệmchiến thắng, tưởng niệm chiến tranh, tượng đài danh nhân, lãnh tụ; có giá trịvề nội dung tư tưởng, ca ngợi truyền thống cách mạng.
Bên cạnh đó, nhiềuhoạt động triển lãm, thi, liên hoan, giao lưu mỹ thuật, nhiếp ảnh với các quymô, hình thức khác nhau do Nhà nước, các tổ chức, cá nhân tổ chức đã tạo nênmột diện mạo phong phú, đa dạng và phong trào sôi nổi trong hoạt động mỹ thuật,nhiếp ảnh; góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và nâng cao mức hưởng thụnghệ thuật cho nhân dân.
Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng lý luậnTrung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và ở địa phương là Ban tuyên giáotỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy, thị ủy...
Gồm: Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Văn hóa -Nghệ thuật, Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh, Trung tâm Thông tin Triển lãm...
Trong đó, có 13 di sản văn hóa thuộc danhsách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; 2 di sản văn hoá nằmtrong danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
Những địa phương có số lượng tượng đài, tranhhoành tráng xây dựng, nâng cấp nhiều trong giai đoạn vừa qua là thành phố HàNội, Hồ Chí Minh, các tỉnh: Phú Thọ, Nam Định, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Long An, BìnhPhước, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Bình Dương, Gia Lai, Kon Tum, Bến Tre…