Tổng quan về khuyết tật và sự kỳ thị khuyết tật ở Việt Nam
Cập nhật : 15:46 - 28/12/2018


Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, nếu đánh giá số người khuyết tật  ở Việt Nam sử dụng Khung ICF - “Phân loại quốc tế theo chức năng, khuyết tật và sức khỏe” (the International Classification of Functioning, Disabilitu anh Health) của WHO (Tổ chức Y tế thế giới), 15% dân số Việt Nam là người khuyết tật. 75% người khuyết tật ở Việt Nam hiện đang sinh sống ở các vùng nông thôn và 58% tổng số người khuyết tật có đa dạng khuyết tật.
Điều kiện kinh tế và xã hội của người khuyết tật ở Việt Nam thường khó khăn. 16% số người khuyết tật thuộc diện nghèo so với 14% tỷ lệ nghèo của cả nước . Ít nhất 70% người khuyết tật ở vùng đô thị và 65% ở vùng nông thôn sống từ trợ giúp của gia đình là chính.  Theo một nghiên cứu tại 6 vùng kinh tế ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, 25% số người khuyết tật được hỏi chưa bao giờ có bảo hiểm y tế, 20% số người khuyết tật đang ở độ tuổi lao động (từ 18 tuổi đến 60 tuổi) không đi làm chủ yếu do sức khỏe yếu. Tỷ lệ biết đọc và viết trong số người khuyết tật trên cả nước chỉ khoảng 76% (so với 95% biết đọc biết viết là người không khuyết tật). Ở một số vùng, con số này chỉ là 59% trong nhóm dân số từ 6 tuổi trở lên.
Trước thực trạng này của người khuyết tật, Việt Nam đã tiến hành các bước đi sâu rộng trên nhiều lĩnh vực để đảm bảo quyền lợi của người khuyết tật và tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. bước đi quan trọng đầu tiên nhằm ghi nhận quyền của người khuyết tật được thể hiện bằng việc Quốc hội thông qua Hiến pháp 1992 ghi nhận quyền được hỗ trợ học văn hóa và học nghề phù hợp của trẻ em tàn tật (Điều 59); quyền được Nhà nước và xã hội giúp đỡ của người tàn tật không nơi nương tựa (Điều 67). Lần đầu tiên, tại Hiến pháp sửa đổi 2001 đã thay đổi cụm từ “tàn tật” thành “khuyết tật” (Điều 59), thể hiện cách tiếp cận mới về người khuyết tật. Những điều luật và chính sách về người khuyết tật này vẫn được giữ nguyên trong Hiến pháp 2013 mới của Việt Nam.
Việt Nam cũng đã có quy định đảm bảo quyền tiếp cận các tòa nhà và công trình công cộng cho người khuyết tật. Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 01/2002/QĐ-BXD về Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng các công trình công cộng. Luật Dạy nghề 2006 và được thay thế bằng Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 có quy định riêng khuyến khích đào tạo nghề cho người khuyết tật bao gồm cả miễn giảm thuế cho cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật.
Thành tựu nổi bật trong công tác đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật ở Việt Nam là việc Quốc hội thông qua Luật Người khuyết tật năm 2010. Đây là văn bản pháp lý toàn diện đầu tiên đảm bảo quyền lợi của người khuyết tật. Nếu Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001, mới dùng cụm từ “trẻ em khuyết tật” thay cho cụm từ “trẻ em tàn tật” tại Điều 59, đến Luật này, cụm từ “người tàn tật” đã được thay thế hoàn toàn bằng cụm từ “người khuyết tật”, đánh dấu một bước chuyển biến thực sự trong cách tiếp cận đối với người khuyết tật ở Việt Nam. Theo Điều 4 Luật Người khuyết tật, người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật. Thêm vào đó, người khuyết tật cũng được công nhận là một nhóm được nhận các bảo trợ xã hội như tiền hỗ trợ khuyết tật hàng tháng, bảo hiểm y tế (miễn phí nếu là hộ nghèo – theo Điều 12 Luật Người khuyết tật).
Khác với quan niệm của Công ước về Quyền của Người khuyết tật, Chính phủ Việt Nam vẫn chú trọng đến các điều kiện y tế trong định nghĩa và cách tiếp cận với người khuyết tật. Theo Điều 2 của Luật Người khuyết tật, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Không như Công ước về Quyền của người khuyết tật, định nghĩa này của Việt Nam chỉ dừng lại ở các khiếm khuyết trên góc độ y tế mà không đề cập các khó khăn mà người khuyết tật gặp phải khi tiếp cận các dịch vụ công hay khi tham gia các hoạt động xã hội .
13% số người được hỏi trong một nghiên cứu ở Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh của Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, họ không được cộng đồng đối xử tốt. Sự kỳ thị đối với người khuyết tật cũng khác biệt tùy theo loại khuyết tật, độ tuổi, giới tính và học vấn. Những người khuyết tật trí tuệ, giao tiếp và tự chăm sóc bản thân có tỷ lệ bị kỳ thị cao hơn những người có các khuyết tật khác. Người khuyết tật trẻ tuổi bị kỳ thị cao hơn so với những người nhiều tuổi hơn. Người khuyết tật có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng ít gặp kỳ thị hơn .Trẻ em nam khuyết tật ít bị kỳ thị hơn, khi đến tuổi đến trường thường được cho đi học văn hóa hoặc học nghề hơn so với trẻ em nữ khuyết tật.
Về văn hóa tín ngưỡng, người khuyết tật bị kỳ thị vì học được xem là sự trừng phạt cho tội lỗi mà người nhà họ kiếp này hay ông bà họ kiếp trước đã phạm phải. Điều này là kỳ thị được áp đặt ngay lập tức lên một đứa trẻ khi nó ra đời và thậm chí làm cuộc sống của đứa trẻ khuyết tật có thể bị nguy hiểm vì bị dấu đi hoặc bị bỏ rơi để trẻ không phát triển.
Khi đến tuổi đến trường, khả năng ứng xử và khả năng học của trẻ khuyết tật sẽ quyết định liệu đứa trẻ đó có được đi học hay không. Điều này đi ngược lại với quy định của Luât Giáo dục, theo đó, mọi công dân đều có quyền học tập và Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ để nọi công dân đặc biệt với trẻ em khuyết tật có thể đi học. Quyền đi học của người khuyết tật ở Việt Nam được cân nhắc trên cơ sở năng lực của họ chứ không phải là quyền phổ cập dành cho mọi trẻ em như luật định. Hơn nữa, dù mục tiêu tạo điều kiện cho tất cả trẻ khuyết tật tham gia học hòa nhập đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo đề ra từ năm 2006, song các đánh giá cho thấy công tác chuẩn bị cho việc triển khai chương trình này còn hạn chế: giáo viên không được đào tạo sâu về chuyên môn để dạy giáo dục hòa nhập; trường học thiếu trang thiết bị, dụng cụ tài liệu trợ giảng chuyên biệt dành cho học sinh khuyết tật; các trung tâm giáo dục dành riêng cho trẻ em khuyết tật chỉ có ở các thành phố lớn…
Khi đến tuổi đi làm, việc dạy nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật cũng đặt ra nhiều vấn đề bất cập. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật chưa được đào tạo chuyên sâu về cách dạy cho người khuyết tật, nên kỹ năng truyền đạt cho học viên bị hạn chế, dẫn đến thực trạng tay nghề của người khuyết tật được đào tạo không như mong đợi. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp không nhiệt tình khi nhận lao động là người khuyết tật do lo ngại ảnh hưởng đến đến năng suất, hiệu quả kinh doanh. Nếu được đi làm, mức độ kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm rất cao, như trả lương thấp hơn.
Về mặt pháp luật, do sự khác biệt trong định nghĩa về người khuyết tật (như đã nêu trên), cũng tạo sự khác biệt trong cách tiệp cận và ban hành các chính sách xã hội hợp lý để người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và bình đẳng hơn vào xã hội. Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Người khuyết tật không có quy định nào đề cập đến dạng khuyết tật nào, mức độ khuyết tật cụ thể ra sao thì được hưởng quyền trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật.
Về tiếp cận dịch vụ y tế, theo một báo cáo của USAID , mặc dù dịch vụ y tế hỗ trợ phục hồi chức năng được đưa vào trong Luật Người khuyết tật nhưng việc thực hiện gặp nhiều hạn chế. Các cơ sở cung cấp dịch vụ này chủ yếu tập trung vào vật lý trị liệu cho người có khuyết tật vận động và một số nơi có trị liệu giúp phục hồi khả năng nói. Tuy vậy, cở sở hạ tầng nghèo nàn và đào tạo chuyên môn cho cán bộ làm việc tại các trung tâm còn hạn chế, gây sự thiếu tin tưởng trong tâm lý người sử dụng, làm giảm tính thiết thực của các cơ sở này.
Nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng cảm nhận về hành vi phân biệt đối xử chứ không phải là mức độ phân biệt đối xử có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và trạng thái tinh thần của người bị phân biệt. Do vậy, hiểu rõ hơn về kỳ thị mà người khuyết tật cảm nhận trong các tương tác xã hội có tầm quan trọng lớn, giúp nâng cao hiệu quả các nỗ lực giúp người khuyết tật tham gia đầy đủ và bình đẳng vào xã hội. Cùng với đó, những can thiệp để giảm và xóa bỏ những hành vi hay chính sách gây ra những cảm nhận bị kỳ thị trong người khuyết tật có thể được xây dựng hiệu quả hơn vì đã đáp ứng được những yêu cầu xuất phát từ nhìn nhận và đánh giá của người khuyết tật.

TTBD

Chú thích:

[1] ILO. 2013. Inclusion of people with disabilities inVietnam – Factsheet.

[2] Lê Bạch Dương, KhuấtThu Hồng và Nguyễn Đức Vinh. 2008. Ngườikhuyết tật ở Việt Nam: Kết quả điều tra xã hội học tại Thái Bình, Quảng Nam, ĐàNẵng và Đồng Nai. Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia.

[3] Điều 1, Công ướccủa Liên hợp quốc về Quyền của Người khuyết tật “Người khuyết tật bao gồm nhữngngười có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tinh thần, trí tuệ hoặc giác quan màkhi tương tác với những rào cản khác nhau trong xã hội, những khuyết điểm nàycó thể hạn chế sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ vào các hoạt động xã hộitrên cơ sở bình đẳng với những người khác”.

[4] Viện Nghiên cứuPhát triển xã hội (ISDS). 2013. Chi phíkinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam. Hà Nội. NXB Lao động.


 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK