Những thách thức Việt Nam phải đối mặt khi tham gia Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP .
Cập nhật : 15:32 - 28/12/2018

Ngày 13/10/2018, các Bộ trưởng của 16 nước tham gia đàm phán RCEP tham dự phiên họp giữa kỳ cấp bộ trưởng lần thứ 6 tại Singapore nhằm đánh giá các bước tiến của các thỏa thuận. Nhóm RCEP khẳng định việc thông qua thỏa thuận là "cột mốc quan trọng" trong lúc tình hình thương mại thế giới đang đối mặt nhiều thách thức . Báo Straits Times cũng trích dẫn tuyên bố chung được đưa ra hôm 13/10 như sau: "Các bộ trưởng tái khẳng định hướng giải quyết vấn đề nhằm mang lại kết luận quan trọng cho các cuộc đàm phán, đồng thời nhắc lại việc đạt được thỏa thuận đến cuối năm sẽ là cột mốc quan trọng".  

Giá trị của RCEP thể hiện qua 3 khía cạnh chính. Thứ nhất, RCEP sẽ xóa bỏ hàng rào thuế quan lên đến 90-95% tổng số dòng thuế. Điều này thực tế đã và đang được áp dụng trong khuôn khổ ASEAN+1. Thứ hai, những điều khoản mang tính tích cực sẽ làm cho RCEP có ý nghĩa với tất cả các quốc gia thành viên, không phân biệt lớn hay nhỏ. Thứ ba, thúc đẩy đàm phán cho ra đời RCEP sẽ phục vụ tốt cho tiến trình hội nhập khu vực. 

RCEP sẽ mang lại những cơ hội mới cho Việt Nam. Việt Nam sẽ tiếp cận dễ dàng hơn tới các thị trường đầu tư và xuất khẩu của ASEAN và các đối tác, đa dạng về nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. RCEP cũng tạo cơ hội nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn, đặc biệt là các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tham gia vào mạng lưới chuỗi giá trị và sản xuất khu vực, tăng cường hợp tác kỹ thuật và vị thế trong giải quyết tranh chấp, đồng thời được hưởng lợi từ việc cắt giảm chi phí giao dịch và môi trường kinh doanh thân thiện hơn .

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mới đó, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức khi RCEP được thực thi. 

Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với một thách thức lớn nhất là hàng hóa từ các nước khác có thể đưa vào Việt Nam với mức thuế suất thấp hơn. Việt Nam với nhiều nước đang phải đối mặt với thách thức là thâm hụt thương mại với Trung Quốc ngày càng gia tăng. Cụ thể, hàng hóa của Việt Nam sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc đối với các mặt hàng may mặc, giày dép và gạo sang Nhật Bản; các mặt hàng chăn nuôi, thức ăn và dệt may sang Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các nước Cambodia, Lào, Myanma, Việt Nam nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ chịu nhiều thua thiệt, bất lợi khi cạnh tranh với các nước phát triển hơn trong RCEP.

RCEP cho phép các nước tự do hóa thương mại với các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam thì sức ép cạnh tranh sẽ gia tăng đáng kể. Cơ cấu thương mại của Việt Nam khá tương đồng với các nước tham gia RCEP, trong khi chất lượng và giá trị gia tăng của hầu hết sản phẩm còn khiêm tốn và phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất trong nước. Mặt khác, đầu vào sản xuất của Việt Nam phụ thuộc lớn từ nhập khẩu, khả năng cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị khu vực còn hạn chế, cũng như mức độ tham gia cung cấp thương mại dịch vụ toàn cầu rất khiêm tốn. Sự cạnh tranh với Trung Quốc là thách thức được đặt ra với doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. Hiện Việt Nam đang có mức tiếp cận với Nhật Bản và Hàn Quốc ưu đãi hơn so với Trung Quốc bởi các Hiệp định song phương và đa phương với hai nước này. Nhưng điều này sẽ bị hạn chế đáng kể nếu đạt được một hiệp định RCEP toàn diện, khi đó, Trung Quốc sẽ cạnh tranh với Việt Nam và các nước ASEAN .

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ chuyên nghiệp tại thị trường trong nước cũng sẽ tăng lên đáng kể. Cụ thể, dịch vụ ngân hàng là một lĩnh vực mà Việt Nam sẽ phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ các nước RCEP, đặc biệt là Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia; dịch vụ viễn thông sẽ có sự cạnh tranh gia tăng từ phía Ấn Độ; dịch vụ phân phối sẽ có sự cạnh tranh lớn hơn từ những nhà bán lẻ hiện hữu trên thị trường và từ các nhà bán lẻ mới, đặc biệt là từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Thái Lan. Tuy nhiên, điều này cũng có thể nhìn nhận như là một môi trường tốt để các doanh nghiệp dịch vụ và bán lẻ tại Việt Nam được tôi luyện, tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nhằm tạo ra những doanh nghiệp hoạt động chuyên nghiệp và hoạt động hiệu quả trong một môi trường áp lực cạnh tranh lớn.
Để giảm thiểu các tác động bất lợi sau khi RCEP được ký kết và đi vào thực hiện, Việt Nam cần có kế hoạch ứng phó kỹ càng.

Chính phủ cần tăng cường phổ biến thông tin về RCEP nhằm tạo điều kiện để các bên có lợi ích liên quan tham gia sâu hơn vào quá trình này. Cộng đồng doanh nghiệp và người lao động cần hiểu rõ và cập nhật kiến thức về các cam kết có thể đưa ra trong RCEP, cũng như các cơ hội và thách thức trong việc thực thi các cam kết này. Đối với các ngành, cần đảm bảo chia sẻ thông tin về RCEP và dự kiến điều chỉnh chính sách liên quan một cách hiệu quả giữa các bộ ngành chủ quản, các cơ quan, địa phương và doanh nghiệp, giữa các tổ chức chính trị, xã hội và người dân trong quá trình tham gia RCEP, không chỉ ở giai đoạn thực hiện mà ngay từ giai đoạn đàm phán.

Việt Nam cũng cần đẩy nhanh quá trình cải cách môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời ở cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Củng cố năng lực sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và nâng cao chất lượng sản phầm, qua đó đảm bảo lợi ích tham gia mạng lưới sản xuất được hình thành trên cơ sở RCEP.

TTBD

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK