Những rào cản đối với thị trường lao động nữ ở Việt Nam
Cập nhật : 16:54 - 03/12/2018
Theo báo cáo “Phụ nữ, việc làm và tiền lương: Tổng quan về lao động nữ tại Việt Nam” của Mạng lưới Hành động vì lao động di cư Việt Nam (M.net) công bố, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất thế giới, với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ là 72% Điều này khẳng định, lao động nữ nước ta đang đóng góp rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy vậy, phái nữ gặp nhiều khó khăn hơn trong công việc, khi họ thường phải nhận mức lương ít hơn, hay có vị thế việc làm thấp hơn nam giới.

Cũng theo số liệu từ báo cáo này, 7,8 triệu lao động nữ nước ta đang làm việc trong khu vực phi chính thức với điều kiện lao động không bảo đảm. Tỷ lệ lao động nữ trong khu vực phi chính thức phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với mức 31,8% của lao động nam trong khu vực phi chính thức. Hơn nữa, lao động nữ đang ở vị thế thấp hơn nam trong cơ cấu việc làm. Phụ nữ chỉ chiếm 26,1% các vị trí lãnh đạo, nhưng lại đóng góp tới 52,1% nhóm lao động giản đơn và 66,6% lao động gia đình. 

Bên cạnh đó, lao động nữ chiếm đa số trong nhóm lao động thất nghiệp. Đặc biệt, tỷ trọng lao động nữ trong nhóm thất nghiệp có trình độ đại học lên tới 55,4%. Điều đó cho thấy, khả năng tiếp cận việc làm đối với lao động nữ khó khăn hơn nam ở hầu hết mọi nhóm trình độ, đặc biệt ở nhóm thấp nhất và nhóm cao nhất. Thêm nữa, lao động nữ cũng phải làm việc trong điều kiện tồi tệ hơn lao động nam. Chỉ 49,8% lao động nữ trong nhóm lao động làm công ăn lương có ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, trong khi đó tỷ lệ ký hợp đồng lao động của nam là 58,8%. Điều kiện vệ sinh không bảo đảm và áp lực công việc để lại hậu quả tới sức khỏe lao động nữ.
 
Không chỉ gặp nhiều khó khăn trong công việc, phụ nữ còn thường phải nhận mức lương ít hơn so với đối tượng nam giới khi nam giới đang có thu nhập cao hơn nữ giới khoảng 10%. Mặc dù sự chênh lệch tiền lương theo giới có giảm trong những năm gần đây, tuy nhiên, khi so sánh thu nhập của lao động nam và nữ tại Việt Nam với cùng trình độ học vấn, khu vực sinh sống, độ tuổi và nhóm dân tộc, chênh lệch mức lương thậm chí còn cao hơn, lên đến 12,6%. Nghĩa là, nữ giới nhận lương thấp hơn 12,6% so với nam giới có cùng trình độ học vấn, nhóm dân tộc, và độ tuổi. (theo số liệu từ Báo cáo Tương lai việc làm Việt Nam: Dưới góc nhìn giới do Ngân hàng thế giới thống kê)

Trên thực tế, chênh lệch thu nhập theo giới cao hơn chênh lệch tiền lương theo giới. Chênh lệch tiền lương theo giới chỉ đo lường sự khác biệt thù lao giữa nam và nữ có việc được trả lương. Tuy nhiên, 66% việc làm tại Việt Nam lại không được trả lương. Thay vào đó, các thành viên trong nông hộ và chủ doanh nghiệp hộ gia đình lấy lợi nhuận làm thù lao cho chính mình. Phụ nữ tham gia nhiều hơn trong các loại hình công việc này so với nam giới. Ví dụ, trong năm 2015, gần 52% lao động nông nghiệp là nữ, so với khoảng 48% là nam. Khoảng 55% tự làm phi nông nghiệp là nữ, so với 45% là nam. Hai loại công việc này có năng suất lao động thấp, và thu nhập trung bình thấp hơn mức lương tối thiểu. Ngoài ra, các công việc này còn là nguồn thu nhập rủi ro do chịu thời tiết xấu và dễ bị tác động bởi những thay đổi nhỏ về giá hoặc xu hướng mua của người tiêu dùng. Các công việc này đòi hỏi người lao động phải làm việc nhiều giờ và trong điều kiện khó khăn. Phụ nữ cũng chiếm một tỷ lệ lớn trong các công việc gia đình không được trả lương trong nông nghiệp.

Cụ thể, kết quả từ cuộc khảo sát Tổng liên đoàn lao động năm 2016 (Báo cáo kết quả khảo sát về tăng trưởng vai trò của công đoàn trong thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền lao động nữ, 2016) cũng chỉ ra, lao động nữ vẫn còn nhiều thiệt thòi về tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo,thăng tiến và việc làm bền vững. Vẫn tồn tại khoảng cách khá lớn về trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa lao động nam và nữ. Trong khi tỷ lệ nữ đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 26,45% thì tỷ lệ tương ứng của nam là 45,04%, mức chênh lệch lên tới 18,59%. Tiền lương bình quân/tháng của lao động nữ là 4,7 triệu đồng/tháng so với thu nhập bình quân/tháng của lao động nam là 5,17 triệu đồng/tháng. Khoảng cách về giới đặc biệt rõ nét khi xét về khía cạnh loại hình công việc, nhiều phụ nữ phải làm những công việc dễ bị tổn thương (thường không ổn định và ít có bảo hiểm xã hội) hơn so với nam giới, tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương ở nữ giới cao hơn nam giới tới 12,4%. Trong nhóm lao động làm công ăn lương, thu nhập từ việc làm hàng tháng trung bình của nam giới cao hơn phụ nữ 10,7% , điều này cho thấy một yếu tố quan trọng dẫn đến khoảng cách giới về thu nhập là xu hướng của phụ nữ làm việc trong các ngành nghề có thu nhập thấp hơn so với nam giới.

Do đó, cải cách là cần thiết để thiết lập nền tảng cho các công việc năng suất cao hơn, thu nhập tốt hơn và chất lượng cao hơn cho phụ nữ. Một số đề xuất được các chuyên gia chỉ ra như:
- Các điều luật quy định về bình đẳng trong cơ hội như san bằng chi phí tuyển dụng lao động nam và nữ cho người sử dụng lao động, trao quyền cho phụ nữ nhiều hơn…
- Phát triển thị trường để giảm bớt gánh nặng gia đình, đặc biệt là trong bối cảnh già hoá dân số, xây dựng hệ thống chăm sóc dài hạn và toàn diện.
- Phát triển những ngành không phân biệt giới
- Trang bị kỹ năng và bổ túc nghề nghiệp cho phụ nữ để mở rộng cơ hội việc làm cho nữ trong những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nam
- Tận dụng luật lao động và chuẩn mực tại nơi làm việc để nam giới đóng vai trò tích cực hơn trong gia đình và sẵn sàng chấp nhận phụ nữ làm quản lý, khuyến khích nam giới tham gia chăm sóc gia đình nhiều hơn và chia sẻ các trách nhiệm gia đình khác để giảm gánh nặng cho phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới.
- Thiết kế chính sách hướng đến phụ nữ các nhóm dân tộc thiểu số, thực hiện các bước nâng cao chất lượng việc làm hiện có dành cộng đồng dân tộc thiểu số, gồm phụ nữ, trong các lĩnh vực nông nghiệp truyền thống và mô hình nông hộ.

Tóm lại, các xu hướng lớn đang xuất hiện sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội đẩy mạnh bình đẳng giới trên phương diện việc làm. Các nhà hoạch định chính sách có thể góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thông qua việc xây dựng các chính sách và cơ chế khuyến khích nhằm nắm bắt các xu hướng lớn hiện nay, để việc làm mới không chỉ mang lại lợi ích cho phụ nữ Việt Nam, mà còn góp phần đáng kể vào mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, tăng trưởng bao trùm, và dân chủ.

TTBD

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK