Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh – PCI và hoạt động giám sát và thẩm tra của HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Cập nhật : 16:52 - 03/12/2018
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI (viết tắt tiếng Anh của Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh. Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 cho 47 tỉnh, thành phố của Việt Nam được xếp hạng và đánh giá. Từ lần thứ hai, năm 2006 trở đi đến nay, tất cả các tỉnh, thành phố của Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm. Năm 2013, PCI đánh dấu bước thay đổi mới khi  đưa vào bộ chỉ số gồm 10 chỉ số thành phần.
Hiện nay, PCI là một kênh quan trọng để các doanh nghiệp xem xét về địa điểm đầu tư, thể hiện đánh giá của các doanh nghiệp tư nhân về môi trường kinh doanh cấp tỉnh; phần lớn các tỉnh, thành phố đều xem PCI là cơ sở quan trọng để ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, chương trình hành động (của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND) nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng điều hành các hoạt động .
PCI là bộ chỉ số được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam để đánh giá mức độ thuận lợi của thủ tục hành chính tại các cơ quan Nhà nước cấp tỉnh như: thủ tục đăng ký kinh doanh; đất đai; giấy phép; thanh tra.. và mức độ hỗ trợ của chính quyền đối với doanh nghiệp dân doanh đang hoạt động tại địa phương. Do được đánh giá một cách khách quan và công bằng, nên từ khi ra đời đến nay, chỉ số PCI đã được các địa phương và doanh nghiệp coi trọng. Việc đánh giá PCI giúp các địa phương tự đánh giá và tạo nên những bước đột phá để thúc đẩy sự cải thiện môi trường đầu tư, giúp các doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững. Đối với chính quyền các tỉnh, thành phố, PCI là sự phản ánh về năng lực điều hành của chính quyền và là một động lực cải cách quan trọng đối với môi trường kinh doanh cấp tỉnh. Đối với các doanh nghiệp, PCI là sự phản ánh của các doanh nghiệp tư nhân về môi trường kinh doanh địa phương, là kênh thông tin tham khảo tin cậy, là một trong những căn cứ quan trọng khi quyết định đầu tư vào địa phương.
Báo cáo chỉ số PCI công bố hàng năm đã thu hút sự quan tâm và ảnh hưởng tích cực đến việc điều hành các cấp chính quyền tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; báo cáo cung cấp kênh thông tin tham khảo độc lập cho lãnh đạo cấp địa phương có thể đánh giá một phần tác động của những thay đổi chính sách trong năm, để đo lường mức độ phản hồi của chính sách đến việc cải thiện sức hút đầu tư, sự hài lòng của các chủ đầu tư,… nhằm hướng đến cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. 
Trong việc xếp hạng về Chỉ số PCI, Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những địa phương có Chỉ số PCI nằm trong vị trí từ khá đến tốt. Tuy nhiên, qua theo dõi chỉ số PCI từng năm, thường là không ổn định tăng giảm bất thường. Sau khi có sự sụt giảm nghiêm trọng chỉ số PCI năm 2013 với thứ hạng 39/63 tỉnh thành, lãnh đạo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã nhận thức được tầm quan trọng của chỉ số này, trong cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu quả cải cách hành chính và chất lượng điều hành, đặc biệt có những chỉ đạo quyết liệt từng bước cố gắng cải thiện vị trí xếp hạng. 

Vì vậy, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã triển khai thực hiện Chương trình hành động cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư và nâng cao Chỉ số cạnh tranh (PCI) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và ban hành nhiều văn bản để thúc đẩy sự quan tâm của bộ máy công quyền và làm thước đo sự tiến bộ trong cải cách hành chính.

 Vai trò của HĐND tỉnh trong việc sử dụng chỉ số PCI trong giám sát và thẩm tra 
Qua phân tích Báo cáo PCI năm 2013 và giám sát một số lĩnh vực Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND đã phát hiện ra các nguyên nhân dẫn đến các chỉ số này có điểm số và thứ hạng thấp, cụ thể như sau:
+ Đối với chỉ số tiếp cận đất đai: Chỉ số tiếp cận đất đai gồm 08 chỉ tiêu thành phần, đo lường các chính sách liên quan việc tiếp cận đất đai, tính ổn định trong quá trình sử dụng đất và việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai của doanh nghiệp dân doanh. Năm 2013, Chỉ số này của Tỉnh đạt 5,31 điểm, xếp hạng 63/63 tỉnh thành".
Nguyên nhân dẫn đến Chỉ số này sụt giảm điểm là do: Theo kết quả khảo sát của báo cáo PCI, cho thấy nhiều doanh nghiệp đánh giá là việc tiếp cận đất đai để phục vụ sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn; rủi ro khi bị thu hồi đất cao và khi bị thu hồi đất lo ngại không được bồi thường thỏa đáng, bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn chưa hài lòng về chất lượng cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai và cho rằng việc thực hiện các thủ tục hành chính gặp khó khăn, thủ tục hành chính còn rườm rà, tỷ lệ doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấp. Để làm rõ vấn đề này, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tiến hành giám sát kiểm tra việc thực hiện các thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai năm 2013, đã phát hiện một số thủ tục hành chính tại lĩnh vực đất đai còn giải quyết trễ hạn, thời gian kéo dài hơn so với quy định. Đây là những hạn chế làm ảnh hưởng đến chỉ số tiếp cận đất đai của Tỉnh trong năm 2013 và làm giảm điểm các chỉ số về tính minh bạch, làm gia tăng chi phí không chính thức 
+ Đối với Chỉ số tính năng động: Chỉ số tính năng động có 6 chỉ tiêu đánh giá vai trò của lãnh đạo trong việc tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp, không chỉ bao gồm lãnh đạo tỉnh mà bao gồm những người đứng đầu các Sở, ngành và UBND các huyện, thành phố. Năm 2013 chỉ số này của Tỉnh đạt 4,4 điểm, xếp hạng 52/63 tỉnh thành.
Nguyên nhân dẫn đến Chỉ số tính năng động sụt giảm điểm chủ yếu là do cảm nhận của doanh nghiệp về thái độ của chính quyền Tỉnh đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân thấp và nhiều doanh nghiệp cho rằng có những chủ trương, ý kiến hay của lãnh đạo tỉnh nhưng chưa thực thi tốt ở Sở ngành và cấp huyện. Qua giám sát về trách nhiêm và vai trò người đứng đầu của các sở ban, ngành, địa phương trong việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo, Ban Pháp chế HĐND tỉnh đã chỉ ra: Việc tiếp và đối thoại với chủ doanh nghiệp của lãnh đạo UBND các cấp, các sở ngành còn hạn chế, chưa thường xuyên, thường chỉ uỷ quyền cho cấp dưới. Các doanh nghiệp đăng ký gặp lãnh đạo UBND rất khó khăn hoặc không nhận được giấy hẹn. Việc xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp kéo dài, chất lượng xử lý các kiến nghị không đạt yêu cầu, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.
+ Đối với Chỉ số cạnh tranh bình đẳng: Đây là chỉ số mới được bổ sung để đánh giá PCI trong năm 2013, gồm có 14 chỉ tiêu đánh giá mức độ ưu ái trong việc tiếp cận các nguồn lực của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI,... so với doanh nghiệp khu vực tư nhân còn lại. Năm 2013, Chỉ số này của Tỉnh đạt 4,09 điểm, xếp hạng 58/63 tỉnh thành.
Nguyên nhân dẫn đến Chỉ số cạnh tranh bình đẳng có điểm số và thứ hạng thấp chủ yếu là do nhiều doanh nghiệp cho rằng Tỉnh ưu ái cho các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI, ... trong việc tiếp cận các nguồn lực đất đai, tín dụng; ưu tiên giải quyết thủ tục hành chính, các khó khăn vướng mắc trong quá trình hoạt động; ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài hơn là phát triển khu vực tư nhân, ... từ đó làm khó khăn, trở ngại cho hoạt động của các doanh nghiệp khu vực dân doanh.
Đây chính là những nguyên nhân cơ bản sau khi phân tích chỉ số PCI năm 2013 và tiến hành giám sát một số lĩnh vực, đại biểu HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã chất vấn tại Kỳ họp thứ Tám HĐND Tỉnh, khóa V nhiệm kỳ 2011 – 2016. Ngay tại kỳ họp, các đại biểu HĐND tỉnh đã yêu cầu UBND tỉnh phải có các giải pháp cụ thể, thiết thực, khả thi để khắc phục hiệu quả tình trạng này, nhằm cải thiện chỉ số PCI. 
Tuy nhiên, qua báo cáo chỉ số PCI các năm 2014 đến 2017, tuy có nhiều cố gắng nhưng điểm số không tăng trưởng bao nhiêu, cho dù vị trí xếp hạng đã có tăng. Các chỉ số thành phần từng bước được cải thiện, nhưng chậm và không bền vững. Qua theo dõi 10 chỉ số thành phần trong 02 năm, chúng tôi nhận thấy các chỉ số như: tiếp cận đất đai, vị trí vẫn giữ nguyên không tiến bộ; chi phí không chính thức điểm số giảm, đồng nghĩa với việc cải cách hành chính vẫn không thành công, doanh nghiệp bị vòi vĩnh để làm các thủ tục hành chính; chỉ số hỗ trợ doanh nghiệp giảm, qua đó có thể thấy được các chủ trương của tỉnh như đối thoại gặp gỡ doanh nghiệp, tổ chức các diễn đàn trao đổi,… tuy nhiên vẫn còn tình trạng “trên nóng – dưới lạnh” hoặc  “trên nói – dưới không làm”, làm cho doanh nghiệp không yên tâm…

Từ những chỉ báo từ các chỉ số của báo cáo năm 2017, Ban Pháp chế HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tiến hành giám sát “Việc giải quyết thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh”, qua giám sát đã phát hiện ra những hạn chế cần khắc phục và đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo chấn chỉnh khắc phục, cụ thể như: Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trễ hạn còn cao; công tác phối hợp giữa các sở ngành – địa phương khi lấy ý kiến để giải quyết các thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư phản hồi rất chậm; thủ tục liên thông giữa tỉnh với bộ - ngành trung ương chưa tốt…
Mặc dù báo cáo chỉ số CPI chưa thể phản ánh toàn diện những mặt đã làm được, chưa làm được của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong việc phục vụ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư. Nhưng bức tranh chung và xu thế biến đổi của chỉ số PCI trong những năm qua, đã cung cấp những thông tin tham khảo rất có ý nghĩa đối với sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đặc biệt đối với HĐND, việc tham khảo 10 chỉ số thành phần trong báo cáo chỉ số CPI là một công cụ, là thước đo giúp ích rất lớn trong công tác giám sát việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND; thẩm tra đề ra chính sách phù hợp trong Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hàng năm. /.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK