Hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tự do lập hội ở nước ta hiện nay
Cập nhật : 17:04 - 29/10/2018

1. Thực trạng cơ chế bảo đảm quyền tự do lập hội ở nước ta hiện nay
Kể từ 1946 đến nay, quyền tự do lập hội (TDLH) luôn được ghi nhận là quyền hiến định. Hiến pháp hiện hành năm 2013, tại Điều 25 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp, khái niệm “quyền tự do lập hội” hẹp hơn so với khái niệm “quyền tự do hiệp hội” theo pháp luật nhân quyền quốc tế (tự do hiệp hội theo luật nhân quyền quốc tế gồm tự do thành lập, tham gia, điều hành, quản lý hội). Đồng thời, theo một số chuyên gia, cụm từ “do pháp  luật quy địnhh” tiềm ẩn nguy cơ quyền TDLH có thể bị thu hẹp, hạn chế bởi các văn bản quy phạm pháp luật (luật, nghị định, thông tư).

Hoạt động của các hội như gây quỹ, triển khai các chương trình, dự án được thực hiện theo Nghị định 93/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 và Thông tư 07/2010/TT-BKH ngày 30/3/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài, cùng Quyết định số 76/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam. Theo quy định hiện nay, tất cả các hội nghị, hội thảo quốc tế có nội dung liên quan đến vấn đề nhân quyền, trong đó bao gồm quyền TDLH, phải được Thủ tướng phê duyệt. Theo các tổ chức xã hội và các nhà nghiên cứu trong nước, các quy định đó có tính chất phức tạp, phiền phức, cản trở hoạt động của các hội.

Xét theo nghĩa rộng, Việt Nam hiên đã có cơ chế về quyền TDLH, tuy nhiên, theo nhận định của các tổ chức xã hội và các nhà nghiên cứu trong nước, cơ chế này thiên về quản lý chứ chưa thực sự là để bảo đảm thực hiện quyền TDLH. Hầu hết các cấu phần của cơ chế, bao gồm các nguyên tắc, hệ thống quy định pháp luật về chủ thể và việc tổ chức thực thi, giám sát, xử lý các vi phạm pháp luật về quyền TDLH hiện còn thiếu hụt hoặc chưa hợp lý. Đây là lý do không chỉ các tổ chức xã hội trong nước mà nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra khuyến nghị với nhà nước về sự cần thiết cải thiện khuôn khổ pháp lý về quyền TDLH.

Một phần nguyên nhân dẫn đến nhưng bất cập, hạn chế trong khuôn khổ pháp lý về quyền TDLH ở nước ta là bởi định kiến về xã hội dân sự là một kênh “diễn biến hòa bình” vẫn còn nặng nề. Nhìn từ góc độ kỹ thuật, cơ chế bảo vệ quyền con người nói chung, quyền TDLH nói riêng ở tại nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, một phần là do Việt Nam chưa có cơ quản bảo hiến để bảo vệ hiệu quả các quyền hiến định của công dân và cá nhân, cũng như đưa ra phán quyết về những văn bản pháp luật và quyết định vi hiến có thể có của các cơ quan nhà nước liên quan đến TDLH. Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa có cơ quan nhân quyền quốc gia thực hiện chức năng tư vấn, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, đề xuất biện pháp thức đẩy quyền con người.

Ngoài ra, công dân Việt Nam cũng chưa thể gửi khiếu nại về quyền TDLH tới các cơ quan nhân quyền Liên hiệp quốc khi Việt Nam chưa tham gia các Nghị định thư bổ sung của Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị, ICCPR 1966. Việc khiếu nại theo cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN cũng không khả thi khi mà Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR) chỉ là một “cơ quan tư vấn” chứ không có thẩm quyền nhận các khiếu nại của các cá nhân là nạn nhân của vi phạm nhân quyền trong khu vực.

Hiện nay, việc bảo vệ quyền TDLH của công dân Việt Nam chủ yếu được thực hiện qua các cơ chế khiếu nại, tố cáo theo thủ tục hành chính và tư pháp trong nước. Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa thấy có việc nào liến quán đến TDLH được tòa án các cấp thụ lý.

2. Một số gợi ý để hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tự do lập hội ở nước ta
Luật về Hội cần xác lập được các cấu phần của cơ chế bảo đảm quyền TDLH của quốc gia, trong đó chú ý đến các khía cạnh:
Thứ nhất, cần xác lập các nguyên tắc cơ bản như: nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc nhà nước pháp quyền. 
  
Thứ hai, Luật về Hội cần đạt được những yêu cầu cơ bản như sau:     -
    - Phù hợp với Hiến pháp 2013 và thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền TDLH như là 1 trong các quyền chính trị cơ bản của công dân. Luật về Hội cần tạo lập các cơ sở pháp lý để thực thi hiệu quả và đầy đủ quyền hiến định quan trọng này. Đây cũng là một yêu cầu khách quan với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (24/5/2005) và văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII của Đảng.
    - Đảm bảo Nhà nước đủ căn cứ pháp lý để quản lý các hội theo đúng pháp luật.
Quyền TDLH không phải là quyền tuyệt đối, có thể bị hạn chế để bảo vệ các lợi ích cao hơn của nhà nước và cộng đồng. Vì vậy, quản lý nhà nước về hội là cần thiết, phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Đây là cơ sở hiến định để Luật về Hội quy định các biện pháp quản lý hội. Tuy nhiên, Luật cần có những quy định tạo hành lang pháp lý rõ ràng, thuận lợi chó người dân khi thực hiện quyền TDLH; quy định rõ các biện pháp quản lý của nhà nước với hội, quyền hạn, nhiệm cụ của các cơ quan có liên quan; quy định chế tài xử phạt phù hợp với các hành vi và mức độ sai phạm. Ngoài ra, những hành vi vi phạm pháp luật về hội cũng cần được cụ thể hóa trong Luật xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật hình sự.
 
Thứ ba, về phạm vi chủ thể tham gia quan hệ về tự do lập hội:
Luật cần quy định rõ về những chủ thể tham gia quan hệ pháp lý về TDLH. Theo nghĩa rộng, phạm vi chủ thể của quan hệ về hội không chỉ có công dân, các cơ quan nhà nước, mà còn bao gồm các chủ thể khác như người nước ngoài, các tổ chức xã hội, các cơ quan truyền thông… Các chủ thể trong quan hệ về TDLH cần được phân loại thành các chủ thể có quyền thành lập, tham gia, điều hành hội (là các công dân, tổ chức); các chủ thể có nghĩa vụ/ trách nhiệm thực thi, quản lý hội (là các cơ quan nhà nước), và các chủ thể trung gian (như báo chí, cơ quan nhân quyền quốc gia…). Với mỗi dạng chủ thể cần quy định rõ các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và giới hạn của quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo pháp luật.

Thứ tư, về vị trí, vai trò, quyền hạn, nghĩa vụ/trách nhiệm của từng chủ thể trong quan hệ về tự do lập hội:
Thông thường ở các nước, cơ quan lập pháp có quyền và nghĩa vụ/ trách nhiệm xây dựng khuôn khổ pháp luật về quyền TDLH và giám sát việc thực thi luật của cơ quan hành pháp. Quyền và nghĩa vụ/trách nhiệm của cơ quan hành pháp là tổ chức thực thi luật, trực tiếp bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện quyền TDLH. Các cơ quan tư pháp có quyền và nghĩa vụ/trách nhiệm xử lý những vi phạm quyền TDLH của các chủ thể, bao gồm các cơ quan, nhân viên nhà nước và của người thành lập, điều hành, tham gia các hội. Đối với các chủ thể trung gian, pháp luật cũng cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ/trách nhiệm của báo chí trong việc đưa tin về hội, cũng như của cơ quan nhân quyền quốc gia (nếu có) trong việc giám sát và giải quyết những khiếu nại, tố cáo vi phạm quyền TDLH.
Luật cần quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của người thành lập, điều hành các hội, xác định phạm vi những chủ thể có quyền này và quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ.
Luật cũng nên quy định rõ những chủ thể có thể bị cấm hoặc hạn chế lập hội. Chẳng hạn, những người làm việc trong những ngành nghề có tác động lớn đến an ninh, trật tự quốc gia hay cộng đồng có thể bị hạn chế quyền lập hội để bảo đảm công việc của họ không bị ảnh hưởng, gián đoạn trong bất kỳ tình huống chính trị nào. Ngoài ra, các cá nhân hoặc nhóm có tư tưởng, hành vi cực đoan, khủng bố, hận thù, phân biệt đối xử về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, hoặc tuyên truyền chiến tranh, bạo lực…cũng có thể bị cấm hoặc hạn chế quyền TDLH.

Thứ năm, về quy trình, thủ tục pháp lý liên quan đến thành lập, điều hành, tham gia, quản lý, xử lý các vi phạm về quyền tự do lập hội.
Đây là nội dung rất quan trọng trong cơ chế bảo đảm quyền tự do lập hội. Kinh nghiệm của nhiều nước và của Việt Nam cho thấy, nếu thiếu quy định về những vấn đề này thì quyền TDLH, cho dù đã được hiến định thì cũng chỉ mang tính hình thức, khó được thực hiện trong thực tế. 

TTBD

Tham khảo:
PGS.TS Vũ Công Giao (chủ biên), “Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013: Lý luận và thực tiễn”, NXB Hồng Đức, 7/2016

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK