Những điểm mới trong nội dung dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi)
Cập nhật : 16:59 - 29/10/2018


1. Về hệ thống giáo dục quốc dân
- Làm rõ khái niệm, mô hình hệ thống giáo dục quốc dân; 
- Sửa đổi, bổ sung quy định về các nguyên tắc, chính sách, cơ chế để vận hành hệ thống GDQD theo hướng mở, liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo; xác định; đơn giản hóa các luồng di chuyển của người học trong hệ thống; tạo điều kiện cho người học có thể dễ dàng chuyển đổi giữa chương trình, trình độ đào tạo; tạo cơ hội để mọi người học tập suốt đời, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần tiếp cận hệ thống giáo dục của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
- Sửa đổi, bổ sung yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục, chương trình giáo dục đảm bảo tính liên thông của các cấp học, tăng cường năng lực tự học và hợp tác của người học. 
- Sửa đổi, bổ sung quy định về văn bằng, chứng chỉ để phù hợp với các cấp học và trình độ đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tạo cơ chế liên thông giữa các trình độ đào tạo.
- Làm rõ khái niệm, bản chất của GDTX với ý nghĩa là tạo nên một cơ chế học tập linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người; xây dựng xã hội học tập.

2. Về mạng lưới cơ sở giáo dục
- Quy định rõ về khung pháp lý hoạt động của cơ sở giáo dục; xác định các loại hình cơ sở giáo dục theo nguồn gốc chủ sở hữu vốn và theo tính chất hoạt động, theo đó nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình trường công lập, trường dân lập (đối với giáo dục mầm non), trường tư thục (gồm trường tư thục và trường có vốn đầu tư nước ngoài); 
- Sửa đổi, bổ sung quy định nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân; thẩm quyền quy định thủ tục thành lập trường; Hội đồng trường; Hiệu trưởng nhà trường và nhiệm vụ quyền hạn nhà trường; đảm bảo quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của nhà trường. 
- Bổ sung quy định cụ thể tên gọi và chức năng của cơ sở giáo dục thường xuyên; các quy định để bảo đảm quyền và nghĩa vụ học tập của người lớn.
- Làm rõ hơn khái niệm, sự khác biệt về cơ chế tài chính giữa cơ sở giáo dục tư thục với cơ sở tư thục không vì lợi nhuận; vấn đề sở hữu đối với phần tài sản hình thành trong quá trình tích lũy, tái đầu tư của cơ sở giáo dục tư thục, đặc biệt là phần tài sản chung hợp nhất không phân chia của trường tư thục không vì lợi nhuận. 
- Bổ sung các quy định về trường hợp, nguyên tắc chuyển đổi loại hình trường, trên cơ sở đó giao Chính phủ quy định cụ thể. 

3. Về chính sách người học
- Làm rõ quan điểm, khái niệm về phổ cập giáo dục và phổ cập giáo dục bắt buộc. Về phổ cập và xã hội hóa giáo dục, DT Luật đã bổ sung quy định về học phí đối với học sinh diện phổ cập. Theo đó, chính sách không thu học phí trường công lập và hỗ trợ đóng học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi trường dân lập, tư thục sẽ thực hiện ngay sau khi Luật Giáo dục có hiệu lực để đảm bảo nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Đối với chính sách không thu học phí trường trung học cơ sở công lập và hỗ trợ đóng học phí đối với học sinh trung học cơ sở trường tư thục sẽ thực hiện từ năm học 2021-2022.  Đồng thời giao Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo kinh phí triển khai thực hiện chính sách không thu học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh trung học cơ sở trường công lập và hỗ trợ đóng học phí đối với trẻ em, học sinh diện phổ cập tại cơ sở giáo dục dân lập, tư thục.
- Thay chính sách miễn học phí đối với học sinh, sinh viên sư phạm bằng chính sách vay tín dụng sư phạm: học sinh, sinh viên sư phạm được vay tín dụng sư phạm để đóng học phí và chi trả sinh hoạt phí trong toàn khóa học, được hưởng các chính sách học bổng, các chế độ miễn, giảm học phí và trợ cấp xã hội quy định. Sau khi tốt nghiệp, nếu công tác trong ngành giáo dục đủ thời gian theo quy định sẽ không phải trả khoản vay tín dụng sư phạm. Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về việc hoàn trả đối với những trường hợp người học không có nhu cầu sử dụng tín dụng sư phạm nhưng ra trường vẫn làm trong ngành giáo dục. Quy định này giúp cơ sở đào tạo sư phạm có thêm nguồn thu để bù đắp chi phí đào tạo, tăng cường cơ sở vật chất và các điều kiện khác để bảo đảm chất lượng giáo dục. 
- Quy định lại chính sách cử tuyển theo hướng thu hẹp đối tượng cử tuyển, theo đó Nhà nước dành riêng chỉ tiêu cử tuyển đối với các dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; có chính sách tạo nguồn tuyển sinh trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi để học sinh các dân tộc này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học; đồng thời bổ sung quy định biện pháp hỗ trợ cho người đi học theo chế độ cử tuyển để đảm bảo chất lượng đầu ra (Điều 84). 
Để đảm bảo sự phù hợp với Luật Công chức, Luật Viên chức, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ cử tuyển, thay thế quy định về phân công công tác cho người đi học sau khi tốt nghiệp bằng chính sách ưu tiên trong tuyển dụng cán bộ, công chức. 
- Bổ sung quy định về giáo dục hòa nhập cho đối tượng yếu thế ở giáo dục mầm non, phổ thông, dân tộc ít người nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo quyền học tập bình đẳng, tôn trọng sự đa dạng, khác biệt về nhu cầu, đặc điểm của người học và không phân biệt, đối xử.

4. Quy định đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
-  Làm rõ khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, tiêu chuẩn và chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bổ sung quy định làm rõ vị thế của nhà giáo trong Luật; quy định đầy đủ, cụ thể hơn hệ thống chính sách như lương nhà giáo;  tiêu chuẩn, chuẩn nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, tuyển dụng, sử dụng, chế độ làm việc... quy định về nâng chuẩn trình độ được đào tạo đối với giáo viên với nguyên tắc và lộ trình cụ thể, trên cơ sở đó giao Chính phủ quy định cụ thể. 
- Quy định rõ thêm về đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo: Đúng vị thế, rõ quy hoạch; xác định chuẩn nhà giáo dựa trên trình độ đào tạo (bằng cấp) và năng lực nghề nghiệp (thực tiễn).

5. Về quản lý giáo dục và quản trị nhà trường
- Quy định phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục của Chính phủ; theo đó, rõ trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo; trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các Bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh/thành phố trong quản lý nhà nước về giáo dục; trách nhiệm của Bộ Tài chính trong quản lý ngân sách nhà nước cho giáo dục; trách nhiệm của Bộ Nội vụ trong quản lý nhân sự ngành giáo dục. 
- Quy định rõ về hội đồng trường (bao gồm cơ cấu thành phần, nhiệm vụ quyền hạn, ...) gắn với việc thực hiện tự chủ đại học, dân chủ ở GDMN, GDPT và trách nhiệm giải trình với xã hội, người học, cơ quan quản lý; giao Chính phủ quy định cụ thể về quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông công lập.
- Quy định về tự chủ trong nhà trường, bảo đảm đồng bộ với pháp luật có liên quan về quản lý đầu tư, tài chính, nhân sự; tăng cường tiền kiểm và hậu kiểm khi trao quyền tự chủ cho nhà trường. 

6. Về đầu tư tài chính và xã hội hoá giáo dục
- Quy định trách nhiệm của Nhà nước về đầu tư, tài chính trong giáo dục; quy định trong Luật về tỷ trọng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục, bảo đảm tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước; trách nhiệm của cơ quan tài chính các cấp trong việc đảm bảo đủ kinh phí để thực hiện phổ cập giáo dục;
- Đối với vấn đề chi phí giáo dục, đào tạo và học phí, dự thảo Luật quy định theo hướng tính đúng, đủ chi phí dịch vụ giáo dục, đào tạo, làm căn cứ để đầu tư bảo đảm chất lượng.
- Làm rõ khái niệm về xã hội hóa trong giáo dục; từ đó có những quy định phù hợp để thu hút và đa dạng hóa các nguồn thu cho giáo dục; có chính sách để thúc đẩy xã hội hóa giáo dục.
- Xác định các chính sách ưu đãi cho cơ sở giáo dục ngoài công lập trên cơ sở bảo đảm tính khả thi. Quy định chặt chẽ hơn về tài chính của cơ sở giáo dục ngoài công lập. 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK