QUÁ TRÌNH HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN HỢP QUỐC TRONG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY
Cập nhật : 16:49 - 29/10/2018


Liên hợp quốc là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Kể từ khi ra đời vào năm 1945, Liên hợp quốc đã không ngừng xây dựng và tăng cường quá trình hợp tác với các quốc gia thành viên trên nhiều lĩnh vực, trong đó có phòng chống tệ nạn và tội phạm ma túy. Liên hợp quốc đã thiết lập một số cơ quan điều phối toàn cầu về phòng chống ma túy và tội phạm, như Ủy ban chống ma túy Liên hợp quốc (CND), Ban Kiểm soát ma túy quốc tế (INCB), Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC)…

Việt Nam hiện nay được coi như một nước trung chuyển quan trọng đối với buôn bán ma túy trái phép. Theo Ban Kiểm soát ma túy quốc tế, lãnh thổ Việt Nam được sử dụng như một điểm trung chuyển và lưu trữ heroin được sản xuất tại Tam giác vàng để đưa sang Australia, Canada, châu Âu và Nam Mỹ. Ma túy được trung chuyển qua Việt Nam bằng đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường bưu điện. Các tuyến Việt Nam – Trung Quốc, Campuchia – Việt Nam, Lào - Việt Nam, Campuchia – Thái Lan… đều là những điểm nóng về tệ nạn ma túy, trong đó phức tạp nhất là tuyến biên giới Việt Nam – Lào và Việt Nam – Trung Quốc . Vì vậy hợp tác quốc tế giữa các quốc gia nói chung cũng như từng quốc gia với Liên hợp quốc trong trong phòng chống và kiểm soát ma túy là một xu thế chung mà không một quốc gia nào có thể tách rời, kể cả Việt Nam.

Các dấu mốc quan trọng trong quá trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc trong phòng, chống ma túy:
- Ngày 20/9/1977, Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. 
- Năm 1992, Văn phòng đại diện Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc đã được đặt trụ sở tại Việt Nam. 
- Năm 1993, Việt Nam bắt đầu vận động nhân dân ngừng trồng cây thuốc phiện và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội hỗ trợ người trồng cây thuốc phiện. 
- Năm 1995, Bộ Y tế Việt Nam ban hành Quyết định số 939/BYT-QĐ, ngày 06/6/1995 về Quy chế quản lý thuốc gây nghiện và danh mục thuốc gây nghiện.
- Ngày 10/5/1997, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó có quy định cụ thể hơn về tội phạm ma túy với 13 tội danh và các hình phạt bổ sung.
- Ngày 1/9/1997, Việt Nam chính thức tham gia 03 Công ước quốc tế về phòng chống ma túy. Từ đó, hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng chống ma túy giữa Việt Nam và Liên hợp quốc ngày càng phát triển và đạt được những kết quả khả quan. Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc đã nhanh chóng triển khai một số chương trình hợp tác toàn diện với Việt Nam trong phòng chống ma túy, tội phạm và khủng bố.
- Ngày 9/12/2000, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Phòng, chống ma túy, gồm 8 chương, 56 điều; trong đó có những điều luật đã được thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn và điều ước quốc tế.
- Năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự mới được Quốc hội thông qua, trong đó có hai điều 343 và 344quy định về vấn đề dẫn độ. Lần đầu tiên công cụ này đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản mang tính quan trọng đối với việc phát triển các quy định thực thi quốc gia về dẫ độ.
- Ngày 21/11/2007, Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội Việt Nam ban hành, có hiệu lực từ 01/7/2008. Luật có ý nghĩa quan trọng tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động tương trợ tư pháp của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.
Bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng hỗ trợ cho Việt Nam các dự án kỹ thuật ưu tiên về phòng chống ma túy. Các dự án này tập trung hỗ trợ và cung cấp phương tiện kỹ thuật, trang  bị khí tài, công nghệ cho các cơ quan phòng chống ma túy, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, thay thế cây trồng có chứa chất ma túy, điều trị và cai nghiện phục hồi chức năng cho người nghiện ma túy, điều tra và bắt giữ tội phạm ma túy qua biên giới, chia sẻ thông tin về tệ nạn và tội phạm ma túy.
- Gian đoạn 1992-2004: Liên hợp quốc hợp tác với Việt Nam triển khai 12 dự án tập trung vào các mục tiêu: nâng cao năng lực ngăn chặn buôn lậu ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp và tiền chất; hỗ trợ pháp lý; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma túy trong cộng động và đồng bào dân tộc thiểu số .
- Giai đoạn 2004-2007: đã có 16 dự án về phòng chống ma túy do UNODC tài trợ được triển khai tại Việt Nam
- Giai đoạn 2012-2017: Liên hợp quốc hợp tác triển khai một số chương trình, dự án nằm trong khuôn khổ Kế hoạch chung “Một Liên hợp quốc” của UNODC, với tổng ngân sách dự kiến huy động viện trợ cho công tác phòng chống ma túy và tội phạm của Việt Nam trong giai đoạn này là khoảng 14.457.700 USD; tập trung vào lĩnh vực phòng, chống và kiểm soát ma túy; giảm cầu ma túy và HIV/AIDS (hợp tác với Bộ Lao động, Thương binh và xã hội); phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và buôn bán trái phép chất ma túy (hợp tác với Bộ Công an).

Quá trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc trong lĩnh vực phòng chống ma túy đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế, nhưng trong điều kiện tăng cường giao lưu quốc tế, việc hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Liên hợp quốc ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống ma túy giữa Việt Nam và Liên hợp quốc sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm nói chung trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập và nền kinh tế tri thức.

Tham khảo:
1. Bùi Anh Dũng (2006), Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam.
2. Văn phòng Thường trực phòng chống tội phạm và ma túy (2011), Hợp tác quốc tế về phòng chống ma túy và nghiên cứu cơ bản về UNODC, Hà Nội.


 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK