Điều chỉnh chính sách xuất nhập khẩu của Nhật Bản sau khủng hoảng kinh tế
Cập nhật : 10:16 - 02/01/2018

 

 

Điều chỉnh chính sách thương mại là một trong những cách mà các nước hay sử dụng để ứng phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Mục đích và chính sách được điều chỉnh phụ thuộc vào bối cảnh và điều kiện riêng của từng quốc gia. Các công cụ thuế quan, phi thuế quan… thường được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu chính sách. Bài viết sẽ phân tích cách thức điều chỉnh chính sách xuất nhập khẩu được Nhật Bản áp dụng trong thương mại sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008.

Trong những năm gần đây, kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến đáng chú ý như việc hình thành các khu vực thương mại tự do, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008… do đó, chuyển đổi cấu trúc đang trở thành xu hướng tất yếu của kinh tế thế giới. Trong khi các nền kinh tế mới nổi đang chiếm vị trí quan trọng hơn, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng toàn cầu thì vai trò và vị trí của Nhật Bản ngày càng suy giảm không chỉ với các đối tác thương mại truyền thống mà cả các đối tác mới trong khu vực và quốc tế. Bên cạnh đó, ngoài ảnh hưởng tác động của khủng hoàng kinh tế năm 2008, Nhật còn phải giải quyết  thảm họa hạt nhân năm 2011 khiến môi trường đầu tư  và thương mại xấu đi. Tháng 11/2010, Quốc hội Nhật Bản thông qua chiến lược cơ bản về đối tác kinh tế toàn diện, theo đó Nhật Bản xác định mở cửa quốc gia, từng bước thúc đẩy đối tác kinh tế  ở mức cao với các đối tác thương mại chính. Bên cạnh việc điều chỉnh chính sách thị trường, chính sách đối tác hay cạnh tranh, điều chỉnh chính sách xuất nhập khẩu cũng được Nhật Bản đặc biệt quan tâm.

·                     Điều chỉnh chính sách nhập khẩu

Nhật Bản là một trong những quốc gia được đánh giá cao về sự minh bạch và hiệu quả trong quá trình thông quan và các vấn đề thủ tục hải quan. Từ năm 2008, Nhật đã điều chỉnh một số chính sách hải quan như:

- Không có bất cứ yêu cầu đăng ký đặc biệt nào đối với các nhà nhập khẩu và việc sử dụng các bên môi giới hải quan là không bắt buộc. Môi giới hải quan cần có có giấy phép từ giám đốc hải quan và không có yêu cầu về quốc tịch;

-                      Thời gian chờ từ khi hàng hóa cập cảng đến khi giành được giấy phép nhập cảng được điều chỉnh theo hướng giảm dần;

-                      Đơn vị khai thác ủy quyền được thực hiện rộng rãi hơn. Tham gia chương trình này, các nhà nhập khẩu có thể lấy hàng hóa trước khi có được giấy phép nhập khẩu.

-                      Từ năm 2010, tất cả các thủ tục hải quan khai điện tử phải được thống nhất và hoàn thành ở một trong tám cổng thông tin điện tử chính thức

-                      Từ 10/2011, tất cả các nhà nhập khẩu phải trình tờ khai hải quan trước khi hàng hóa được vận chuyển tới kho.

Có thể thấy rằng, những điều chỉnh về tiến trình thông quan và thủ tục hải quan  nhằm mang đến sự thuận tiện cho nhà nhập khẩu.

Thuế quan cũng là công cụ quan trọng để thực hiện chính sách thương mại ở Nhật Bản. Hàng hóa nhập khẩu vào Nhật Bản đều được xem là đối tượng nộp thuế Hải quan và được áp một mức thuế suất đối với giá trị hải quan của hàng nhập khẩu. Để xác định giá trị để tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu và phù hợp với các quy định của pháp luật, hệ thống định giá hải quan tại Nhật Bản được dựa trên “Hiệp định Thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (Hiệp định trị giá WTO)” trong đó việc xác định phương pháp định giá quốc tế và được quy định tại bởi các Điều 4 - 9 của Biểu thuế Luật Hải quan. Thực tế, Nhật theo đuổi chiến lược tự do hóa thương mại từ lâu nên hầu hết hàng hóa nhập khẩu vào Nhật đều chịu mức thuế tương đối thấp. Các mặt hàng chịu thuế suất ràng buộc được điều chỉnh giảm từ 98,8% năm 2010 xuống còn 98,3% năm 2013[1]. Mức thuế suất ràng buộc trung bình có xu hướng giảm từ năm 2008 nhưng biên độ giảm không đáng kể. Ở Nhật Bản, bảo hộ nông sản thể hiện rõ qua các điều chỉnh về mức thuế quan. Trong khi các mặt hàng phi nông nghiệp chịu mức thuế quan thấp và có xu hướng giảm (mức thuế trung bình năm 2013 là 3.7%), các sản phẩm nông nghiệp bị áp mức thuế tương đối cao và có xu hướng ít thay đổi (mức thuế trung bình năm 2013 là17.5%)[2].

Chính sách áp dụng thuế ưu đãi đặc biệt như GSP, LDC, EPAs được Nhật điều chỉnh mở rộng đối với các nước ký kết các hiệp định song phương và khu vực FTA/EPAs (Hiệp định đối tác kinh tế/ Hiệp định Thương mại tự do), trong khi đó thu hẹp với các quốc gia khác. Cụ thể, năm 2012, Nhật áp dụng mức thuế ưu đãi đặc biệt GSP cho138 quốc gia đang phát triển và 7 vùng lãnh thổ, trong đó 48 quốc gia kém phát triển được nhận thêm các ưu đãi; con số này năm 2008 là 141 quốc gia đang phát triển, 14 vùng lãnh thổ và 49 nước kém phát triển. Theo đó, mức thuế ưu đãi trung bình được áp dụng là 0.5-5.3 %, đối với sản phẩm nông nghiệp là từ 1.7 -16,4% [3].

Bên cạnh công cụ thuế quan, công cụ phi thuế quan cũng được Nhật Bản  điều chỉnh sau khủng hoảng tài chính. Đối với các sản phẩm cấm nhâoj khẩu hoặc cần xin phép nhập khẩu, Nhật Bản gần như không có sự điều chỉnh., các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu cũng không thay đổi. Theo đó, Tokyo tuân thủ các lệnh cấm nhập khẩu, yêu cầu xin phép nhập khẩu theo quy định của Liên hợp quốc, đồng thời sẽ đưa ra hạn ngạch nhập khẩu trong khuôn khổ các hiệp định WTO và các sản phẩm được liệ kê trong Công ước Montreal về các sản phẩm phá hủy tầng ozon.

Tại Nhật Bản, cơ quan điều hành hệ thống hạn ngạch nhập khẩu là Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) điều chỉnh cách thức xin cấp hạn ngạch theo hướng phức tạp và khó khăn hơn cho các nhà nhập khẩu nhằm hạn chế nhập khẩu. Hạn ngạch nhập khẩu được đưa ra bởi METI nhưng phải thông qua Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản. 

Một số điều chỉnh chính sách phi thuế quan cụ thể:

-                      Một số hạn ngạch được xác định theo thứ tự ai đến trước được phục vụ trước

-                      Khi lượng xin cấp vượt qua hạn ngạch cho phép, hạn ngạch sẽ được chọn một cách ngẫu nhiên

-                      Hạn ngạch không sử dụng không được chuyển đổi, cũng không được lũy kế cho kỳ kế tiếp, đồng thời chính quyền cũng sẽ không tái cấp các hạn ngạch chưa sử dụng

-                      Chứng nhận hạn ngạch nhập khẩu bình thường có giá trị 4 tháng hoặc 6 tháng  và không được gia hạn.

Các biện pháp chống bán phá giá, hiệp định đối kháng và các biện pháp an toàn cũng được sử dụng để điều chỉnh nhập khẩu. Tháng 10/2011, Nhật Bản thông qua Hướng dẫn sửa đổi tiến trình liên quan tới trách nhiệm chống bán phá giá và trách nhiệm đối kháng bảo đảm phù hợp với cam kết WTO[4].

·                     Điều chỉnh chính sách xuất khẩu

Theo Luật Hải quan sửa đổi năm 2011 của Nhật Bản, hàng hóa được sản xuất bởi các nhà sản xuất theo Đơn vị khai thác kinh tế ủy quyền (AEO) có thể giành được giấy phép xuất khẩu mà không cần phải đặt ở khu vực hải quan. Hiện tại, Nhật đang xem xét điều chỉnh Chương trình AEO bao phủ tất cả các vấn đề kinh doanh liên quan đến thương mại trong chuỗi cung ứng sản phẩm. Biện pháp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà xuất khẩu.

Năm 2011, Nhật Bản điều chỉnh sửa đổi Luật Hải quan để ngăn chặn xuất khẩu các chương trình và thiết bị thiết yếu để hạn chế sao chép công nghệ theo Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Liên hợp quốc. Cũng trong năm 2011, Nhật Bản đưa thêm một vài sản phẩm trong gói hàng hóa cần cấp giấy phép xuất khẩu dựa trên các hiệp định liên quan.

Đối với các chương trình thúc đẩy xuất khẩu, Nhật giao cho Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản và Qũy Bảo hiểm đầu tư và xuất khẩu  Nippon cung ứng tín dụng trung và dài hạn cho các nhà xuất khẩu. Các tiêu chuẩn tín dụng dựa trên các điều khoản của thỏa thuận OECD về trợ giúp tín dụng xuất khẩu chính thức, tuy nhiên, Nhật điều chỉnh theo hướng tăng cho vay tín dụng nhằm khuyến khích xuất khẩu.

 

 



[1] http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.1022.4177&rep=rep1&type=pdf

[2] WTO, Trade policy review, report by Japan, 2013

[3] WTO, Trade policy review, report by Japan, 2013 va WTO, Trade policy review, report by Japan, 2007

[4]Phillip Y. Lipscy & Hirofumi Takinami, The Politics of Financial Crisis Response in Japan and the United States, Japanese Journal of Political Science, 2013

 https://web.stanford.edu/~plipscy/LipscyTakinami.pdf

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK