Biện pháp hành chính trong phòng chống tham nhũng trong khu vực tư
Cập nhật : 10:05 - 02/01/2018

 

 

Trong những năm gần đây, do quá trình hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, khu vực tư của Việt Nam cũng có những bước phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực đó cũng xuất hiện những dấu hiệu tham nhũng trong khu vực tư. Tham nhũng trong khu vực tư phần nào đã làm méo mó môi trường kinh doanh, làm suy yếu sức cạnh tranh cũng như tạo ra những bất bình đẳng đối với doanh nghiệp khu vực tư. Mặc dù phòng chống tham nhũng trong khu vực tư chưa được chính thức điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật cụ thể nhưng về cơ bản, Đảng và Nhà nước cũng đã có những chủ trương, chính sách phát triển khu vực tư trong một môi trường kinh doanh lành mạnh với việc xây dựng bộ máy hành chính gọn nhẹ, tinh gọn. Tuy nhiên, một hệ thống pháp luật tốt đến mấy thì hiệu quả thực hiện trên thực tiễn vẫn phụ thuộc vào bộ máy thừa hành của hệ thống hành chính. Do đó, các biện pháp hành chính, nói cách khác là các biện pháp quản lý nhà nước, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng.

Tại nhiều quốc gia, cải cách hành chính là biện pháp quan trọng đầu tiên nhằm cải thiện tình hình tham nhũng quốc gia. Đây là công cụ để bộ máy nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội và cung cấp dịch vụ công cho các cá nhân, tổ chức trong toàn xã hội. Thường thì các quốc gia tập trung cải tiến các phương pháp và quy trình tổ chức công việc hành chính để giảm tình trạng chẫm trễ trong thủ tục hành chính. Tại Úc, chính phủ nước này đã có những nỗ lực lớn nhằm triển khai chính phủ điện tử, giúp người dân có thể theo dõi tiến độ xử lý việc xử dụng công nghệ thông tin để cung cấp các dịch vụ hành chính.

Tại Việt Nam,  theo Điều 56, Luật, phòng chống tham nhũng năm 2005 về Cải cách hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng: Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm ..; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính…”. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 53/2007/NQ-CP thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Năm 2011, Chính phủ đã có Nghị quyết số 30c/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn này là cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng cải cách hành chính vẫn chưa theo kịp sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội, vẫn còn nhiều kẽ hở tạo cơ hội cho vòi vĩnh đòi hối lộ. Theo thống kê, chỉ tính riêng năm 2013, các doanh nghiệp Việt Nam dành cho cơ quan thuế lên tới 876 giờ, tức 36,5 ngày/năm (gấp hơn 5 lần so với thời gian nộp thuế trung bình của các nước ASEAN-6 là 171 giờ/năm.). Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cho rằng, số liệu thống kê trên chưa bao gồm thời gian đi lại, cũng như thời gian dành cho hàng trăm thủ tục nhiêu khê khác. Theo số liệu thống kê mới nhất, hiện cả nước có 1,7 triệu hộ kinh doanh, hơn 1 triệu người nộp thuế thu nhập cá nhân, 493.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Như vậy, nếu chỉ tính riêng nhóm doanh nghiệp khi thực hiện các nghĩa vụ khai báo/kê khai về thuế sẽ là một con số khủng khiếp lên đến 438 triệu giờ (tức 18.250.000 ngày)[1]. Chính thủ tục hành chính rườm rà, nhiêu khê, làm tốn thời gian của doanh nghiệp là nguyên nhân để doanh nghiệp muốn đi tắt bằng cách nhờ vả, hối lộ công chức để được giải quyết nhanh chóng.

Bên cạnh cải cách hành chính, nhiều quốc gia cũng xây dựng các biện pháp quản lý doanh nghiệp và nâng cao đạo đức kinh doanh trong khu vực tư. Các doanh nghiệp phải minh bạch hơn bằng các biện pháp kỹ thuật và đưa các chuẩn mức đạo đức vào trong quy chế doanh nghiệp.Tại Úc, Chính phủ đã ban hành các quy định điều chỉnh hoạt động kế toán doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ và yêu cầu về công khai thông tin liên quan. Đồng thời quy đinh các cơ chế để giám sát việc thực thi các quy định này liên quan đến hoạt động kiểm tra thường xuyên sổ sách của các công ty và kiểm toán độc lập. Chính phủ Úc cũng hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp và đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy các chương trình về đạo đức kinh doanh và tuân thủ của doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, Luật phòng chống tham nhũng cũng đưa ra các quy định có tính nguyên tắc về vấn đề tặng quà và nhận quà của cán bộ, công chức, viên chức. Ngày 10/5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức (kèm theo Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg), trong đó có những quy định cụ thể về quà tặng và một số hành vi bị nghiêm cấm trong việc nhận quà.

Thực tế, tổ chức bộ máy hành chính được vận hành minh bạch trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong việc cung cấp dịch vụ công đối với lĩnh vực kinh doanh sẽ tạo cơ chế phòng ngừa tham nhũng hiệu quả trong hoạt động công quyền. Ngoài ra, tổ chức thực hiện tốt các biện pháp nhằm phát huy vai trò của xã hội (của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông, công dân) trong phòng chống tham nhũng, tạo lập một xã hội nói không với tham nhũng trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt là các biện pháp mạnh mẽ nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, của hiệp hội ngành nghề về tham nhũng và tác hại của tham nhũng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng. Đồng thời, có cơ chế để khuyến khích, thúc đẩy khu vực tư xây dựng hệ thống quản trị nội bộ tốt để ngăn ngừa tham nhũng phát sinh.

Kinh nghiệm một số quốc gia và tổ chức quốc tế cho thấy, nhà nước có thể sử dụng biện pháp hành chính thông qua việc thiết lập “ danh sách đen” những doanh nghiệp có liên quan đến tham nhũng và công khai thông tin trong cộng đồng doanh nghiệp. Tại một số quốc gia, tổ chức quốc tế như OECD thì việc thiết lập danh sách đen những doanh nghiệp có liên quan đến tham nhũng và công khai danh sách này đã đem lại hiệu quả cao trong công tác phòng chống tham nhũng.

Ngoài ra, hợp tác quốc tế trong phòng chống tham nhũng cũng là hoạt động quan trọng của mỗi quốc gia. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế nên các nền kinh tế luôn có xu hướng hợp tác, xích lại gần nhau, do đó, hành vi tham nhũng cũng trở nên phức tạp hơn với sự liên hết của nhiều chủ thể xuyên quốc gia. Việc phát hiện và xử lý hành vi này đòi hỏi không chỉ quyết tâm và hành động của mỗi quốc gia, tổ chức hay doanh nghiệp mà còn cần sự phối hợp, tương trợ quốc tế giữa các quốc gia, các tổ chức.

Các tổ chức quốc tế đã có nhiều hoạt động trong phòng chống tham nhũng trên phạm vi toàn cầu phải kể đến, đó là: Liên hợp quốc, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol), Ngân hàng thế giới, Tổ chức Minh bạch quốc tế… Một số hiệp ước đa phương cũng đã được ký kết thể hiện quyết tâm của toàn thế giới trong khu vực tư nói riêng như Công ước chống hối lộ công chức nước ngoài trong giao dịch kinh doanh quốc tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế; “Sáng kiến chống tham nhũng” khu vực châu Á- Thái Bình Dương của Ngân hàng Phát triển châu Á và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế khởi xướng năm 1999.

 

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK