Chính sách thủy lợi phí ở Nhật Bản- So sánh với Việt Nam
Cập nhật : 14:56 - 19/12/2016

 

 

Trên thế giới, phần lớn các công trình thủy lợi được xây dựng bằng vốn ngân sách quốc gia. Sau khi xây dựng, những công trình này sẽ được bàn giao cho một đối tượng quản lý vận hành, có thể là công ty hay doanh nghiệp công ích, bán công ích hay tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy nông, tổ chức dùng nước (WUO), chính quyền địa phương hay nhóm hưởng lợi. Để có thể tự trang trải chi phí quản lý vận hành và tự quyết về tài chính thì việc thu phí thủy lợi là cần thiết. Tuy nhiên, việc thu thủy lợi phí tùy thuộc vào mỗi quốc gia.  

Theo Nghị định số 66 NĐ - CP được Chính phủ ban hành ngày 05/6/1962, thủy lợi phí được định nghĩa: “ Tất cả các hệ thống nông giang do Nhà nước đầu tư phục hồi hoặc xây dựng mới, sau khi đã hoạt động bình thường và sản lượng của ruộng đất được tưới hay tiêu nước đã tăng lên, đều do nhân dân, hợp tác xã hoặc nông trường quốc doanh  có ruộng đất được hưởng mức chịu phí tổn về quản lý và tu sửa. Phí tổn này gọi là thủy lợi phí”. Trên thực tế, có khác nhau khá lớn về thủy lợi phí giữa các quốc gia, thậm chí giữa các vùng miền khác nhau trong một nước. Sự khác nhau này phản ánh mục tiêu sử dụng khác nhau, mức độ sẵn có của nguồn nước, các hệ thống thủy nông với nguồn và kỹ thuật sử dụng, khai thác và cấp nước khác nhau. Khi ban hành một chính sách thủy lợi phí hợp lý và hiệu quả thì có thể đạt được nhiều mục tiêu như giải quyết tình trạng thiếu nước, nâng cao tính bền vững của công trình, đảm bảo công bằng xã hội và phát huy vai trò của cộng đồng. Bài viết sẽ làm rõ hơn chính sách thu thủy lợi phí của Nhật Bản, từ đó sẽ đưa ra gợi ý, tham khảo cho Việt Nam.

1.             Chính sách thủy lợi phí ở Nhật Bản

Ở Nhật Bản không có chính sách miễn giảm thủy lợi phí vì theo quan điểm của họ là “người được hưởng lợi phải đóng phí”. Tất cả những công trình thủy lợi ở Nhật Bản đều được Nhà nước đầu tư xây dựng và sau khi hoàn thành được bàn giao cho Ban quản lý và khai thác. Kinh phí đầu tư gồm công trình cầu mối, kênh chính và kênh nhánh, các công trình phân phối nước với số tiền lớn. Điển hình như dự án cải tạo đất khu Shirebeshi (Hokkaido) tưới tiêu cho khoảng 997 ha, nhà nước đầu tư gần 170 triệu yên (khoảng 3.500 tỷ đồng) và đập của hồ chứa nước Kitasorachi có chiều rộng 144m với đầu tư lên đến hàng trăm triệu Yên. Tất cả các hệ thống đóng, mở đều được vận hành trên máy điện tử, việc quản lý đập được giám sát bằng camera. Các hệ thống kênh mương từ kênh chính đến kênh nhánh được quy hoạch thẳng tắp, xây dựng kiên cố. Khác với Việt Nam, các hồ thủy lợi ở Nhật Bản chỉ làm duy nhất một nhiệm vụ là điều tiết, cấp nước tưới, chứ không kết hợp làm thủy điện như ở nước ta.

Sau khi bàn giao các công trình thủy lợi, việc thu phí dùng để tu bổ, bảo dưỡng là do đơn vị quản lý đảm nhiệm. Đây là một trong những lý do khiến Chính phủ Nhật Bản không thực hiện việc miễn, giảm thủy lợi phí cho người dân. Thủy lợi phí thu 6.000 yên/ha/năm (khoảng 12 triệu đồng). Khoản thu này một phần trả lương cho công nhân vận hành, phần còn lại dành cho việc tu bổ định kỳ. Đối với những tu bổ lớn, chính quyền, đơn vị quản lý có thể xin Nhà nước hỗ trợ.

2.             Chính sách thủy lợi phí ở Việt Nam

Cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều văn bản quy định về công tác thủy nông và thủy lợi phí nhằm khuyến nông, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất. Cụ thể như sau:

-                      Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 68/SL ngày 18/6/1949 ấn định kế hoạch thực hành các công tác thủy nông và thể lệ bảo vệ các công trình thủy nông.

-                      Năm 1953, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 149/SL ngày 12/4/1953 về chính sách điền địa, trong đó có đưa ra lý do quan trọng để thu thủy lợi phí “… trả công khai phá, kiến thiết thủy lợi hoặc đã có công làm tăng năng suất ruộng đất”.

-                      Năm 1962, Chính phủ ra Nghi định NĐ 66-CP ngày 05/6/1962, theo đó mức thủy lợi phí được xác định dựa vào lợi ích hưởng nước của ruộng đất và chi phí về quản lý vận hành, duy tu, sửa chữa hệ thống thủy nông. Để khuyến khích sản xuất, trong Nghị định có thêm nội dung miễn thủy lợi phí cho vụ mùa hoặc nếu công trình kênh mương cao hơn 1.5m so với mực nước trung bình trong kênh mương. Theo đó, mức thu thủy lợi phí từ 140-180 kg thóc/ha. Nghị định cũng đưa ra việc miễn giảm thủy lợi phí trong 02 năm đầu khi hệ thống tưới mới đưa vào khai thác hoặc mất mùa do thiên tai.

Đến năm 1984 Hội đồng bộ trưởng có ban hành Nghị quyết số 112- HĐBT ngày 25/08/1984 về việc thu thủy lợi phí thay thế cho NĐ 66-CP. Theo đó, mọi tổ chức và cá nhân được hưởng lợi về tưới nước, tiêu nước hoặc các dịch vụ khác từ các công trình thuỷ nông do Nhà nước quản lý đều phải trả thủy lợi phí cho các xí nghiệp thuỷ nông.

Thủy lợi phí bao gồm các khoản: (a) Khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn và chi phí sửa chữa thường xuyên các máy móc,thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận tải và các phương tiện khác dùng vào việc duy trì, khai thác và quản lý các công trình thuỷ nông, không kể khấu hao cơ bản các máy bơm lớn; (b) Chi phí sửa chữa lớn, tu bổ, sửa chữa thường xuyên các công trình xây dựng đúc và bằng đất, ngoài số nhân công do nhân dân đóng góp; (c) Chi phí về điện và xăng dầu; (d) Chi lương cho cán bộ, nhân viên và chi phí quản lý của các xí nghiệp thuỷ nông.

-                      Năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác. Trong đó, Điều 16 có tạo điều kiện miễn giảm thủy lợi phí do thiên tai mất mùa và công trình thủy lợi được phép xin cấp bù lượng thủy lợi phí bị thất thu.

-                      Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 154/2007/NĐ-CP ngày15/10/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi). Như vậy một bước tiếp theo nhằm miễn giảm thủy lợi phí cho người nông dân từ điểm lấy nước ở nguồn cho đến "cống đầu kênh", còn vẫn chi trả đầy đủ cho tổ chức hợp tác dùng nước theo thoả thuận để phục vụ cho hoạt động của các tổ hợp tác dùng nước từ vị trí "cống đầu kênh" của hợp tác dùng nước đến mặt ruộng.

-                      Ngày 14/11/2008, Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số 115/2008/NĐ-CP. Tại Điều 1, khoản 5 có quy định miễn thủy lợi phí cho các hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối trên mảnh đất được Nhà nước giao, được thừa kế, cho, tặng, nhận chuyển nhượng hợp pháp.

-          Để tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi. Bộ Tài chính có Thông tư số 41/2013/TT-BTC ngày 11/04/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2012/NĐ-CP.  Những bổ sung sửa đổi sẽ là một trong những giải pháp tích cực đầu tư công vào nông nghiệp, nông thôn và thực hiện chính sách "tam nông" theo Nghị quyết số 26/NQ-TƯ khoá X.

Như vậy, chính sách về thủy lợi phí trong suốt thời gian 25 năm (từ năm 1962 đến năm 2007) đã  được Chính phủ chuyển từ việc áp dụng cơ chế kế hoạch, tập trung sang cơ chế thị trường. Nếu trong giai đoạn đầu, nông dân là người hưởng thụ dịch vụ và chỉ chi trả khi hài lòng với nó. Sang giai đoạn thứ hai, họ được miễn giảm phần nào và giai đoạn thứ ba thì Chính phủ trả thay cho người nông dân theo nguyên tắc "người thứ ba trả tiền dịch vụ".

Thủy lợi phí là một chính sách quan trọng của mỗi quốc gia. Hầu hết các nước đều coi nước là hàng hóa và khi sử dụng nước thì phải có nghĩa vụ trả phí. Đây là xu thế chung để người dân có trách nhiệm bảo vệ và củng cố hệ thống thủy lợi, có ý thức tiết kiệm nước và các giải pháp tăng dần giá trị của nước khi sử dụng.

Ở nước ta, những vấn đề về thủy lợi phí về cơ bản đã được thực hiện trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm từ thực tế và tiếp thu có chọn lọc từ kinh nghiệm thế giới. Tuy nhiên, do nhiều lý do như hệ thống làm việc chưa hiệu quả, không đáp ứng được lượng nước cung cấp cho người dân hay ở những vùng hay gặp thiên tai, bão lụt dẫn tới năng s`uất, sản lượng và chất lượng cây trồng giảm. Trong những điều kiện đó, chính sách giảm, miễn thuế thủy lợi phí cũng cần phải được tính đến.

 

Tài liệu tham khảo

1.             Hoàng Thái Đại & cs, Chính sách miễn, giảm thủy lợi phí và quan điểm các tác nhân về chính sách miễn, giảm thủy lợi phí tại một số địa phương, Đặc san KHCN Thủy lợi, 2010:

2.             Nguyễn Xuân Tiệp, Thủy lợi phí- Miễn giảm như thế nào?, Tạp chí Quản lý Kinh tế - CIEM số 12, 2007

3.             Phi Hùng (2015), Quản lý khai thác công trình thủy nông: Tư nhân hóa, sẽ cắt giảm 1/3 ngân sách?, Báo Pháp luật ngày 29.05.2015

4.              Sugiura, M., Water use practice in social aspect: A case of paddy field in Japan, 2007

5.             Yamaoka, K. The relationship between water use in paddy fields and Positive externalities: a Japanese perspective and proposal, 2004

 

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK