Vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cập nhật : 14:39 - 19/12/2016

 

 

1.             Thực trạng hoạt động  doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay ở Việt Nam

Hiện tại, ở Việt Nam có hơn 600.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đang hoạt động (theo Cục Phát triển doanh nghiệp- Bộ KH- ĐT). Khối doanh nghiệp này đóng góp khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cộng đồng DN nói chung, thu hút hơn 5 triệu việc làm và đóng góp gần 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia hằng năm[1]. Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm[2]. Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác.

Tuy nhiên, tỉ trọng vốn đầu tư của DNNVV so với doanh nghiệp quy mô lớn (gồm cả doanh nghiệp Nhà nước) lại biến đổi rất mạnh qua từng năm. Theo Cục Phát triển doanh nghiệp, xu hướng này cho thấy việc đầu tư của khu vực DNNVV không ổn định và không dài hạn, còn tồn tại một số hạn chế, bất cập.

Khi tiến hành khảo sát 10.000 doanh nghiệp liên doanh có đăng ký tại 63 tỉnh, thành phố để đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện đã nhận được những kết quả không mấy khả quan. Gần như các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn chỉ hoạt động trong thị trường nội địa, việc kết nối giữa các doanh nghiệp với chuỗi giá trị toàn cầu rất ít (97% doanh nghiệp siêu nhỏ, 96% doanh nghiệp nhỏ và 81% doanh nghiệp không có quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp nước ngoài hoặc có các hoạt động xuất khẩu). Mặc dù khu vực đầu tư nước ngoài đã làm ăn với Việt Nam rất phát triển, chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất và xuất khẩu nhưng khả năng kết nối giữa doanh nghiệp nhỏ với khu vuc FDI, khu vực đầu tư nước ngoài còn rất hạn chế. Về mặt lý thuyết, các doanh nghiệp nhỏ không tận dụng được về mặt quy mô, dẫn đễn chi phí kinh doanh cao, công tác quản trị gặp khó khăn. Do đó, doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ phải chịu những ảnh hưởng rất lớn.

 Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cũng rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với đất đai trong cụm khu công nghiệp là rất thấp (35% đất của các doanh nghiệp lớn nằm trong khu công nghiệp, tỉ lệ doanh nghiệp vừa chiếm19% , doanh nghiệp nhỏ là 8% , doanh nghiệp siêu nhỏ là 3%) . Về cơ bản, DNVVN hiện tại vẫn đang tận dụng đất trong khu dân cư, sinh hoạt hàng ngày của chủ doanh nghiệp. Về lâu dài sẽ có những bất cập, đặc biệt đối với những doanh nghiệp sản xuất.

Tỷ lệ các DNVVN tiếp cận được với các thông tin ưu đãi, với các dịch vụ hỗ trợ của nhà nước cũng rất thấp. Các doanh nghiệp cần có các mối quan hệ với các cơ quan hữu quan, với các công chức có liên quan mới có thể tiếp cận được với các thông tin cần thiết cho hoạt động kinh doanh.

2.             Vai trò của Nhà nước trong việc trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo đánh giá của tổ chức OECD về xu hướng phát triển của các chính sách hỗ trợ DNVVN , những năm 50 của thế kỷ trước vẫn tư duy DNVVN là những đối tượng cần được bảo vệ và đưa ra những giải pháp để bảo hộ. Đến những năm 80, giải pháp chính là xúc tiến hỗ trợ DNVVN qua những giải pháp cụ thể. Nhưng hiện tại giải pháp chính để hỗ trợ các DNVVN là kiến tạo và thúc đẩy chứ không phải hỗ trợ mang tính nâng đỡ, mà trọng tâm là nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN. Việc này hoàn toàn phù hợp với định hướng chính sách của chính phủ Việt Nam, phù hợp với tư duy mới của thế giới. Luật hỗ trợ DNVVN quan trọng là cần phải lấy kiến tạo, thúc đẩy, nâng cao năng lực cạnh tranh làm tư duy cốt lõi –

Thực tế, nhà nước có nhiều vai trò khác nhau đối việc hỗ trợ các doanh nghiệp. Trước  hết, nhà nước cần phải điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triên ổn định. Nhà nước cũng cần đưa ra các chính sách tốt bởi các chính sách sẽ ảnh hưởng lớn đến sự lớn mạnh của doanh nghiệp. Hiện nay nhiều chính sách, luật của Việt Nam đang có nhiều quy định tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn nhưng lại gây bất lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị định số 19 /2005 về kinh doanh ga là một ví dụ. Quy định ở một quy mô mức độ nhất định thì mới được kinh doanh ga (VD: 100.000 bình ga mới được kinh doanh); hay trong lĩnh vực xuât khẩu gạo, yêu cầu phải có kho bãi lớn, hệ thống xay xát mới có quyền xuất khẩu. Việc này đã tạo sự phân biệt giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Do đó, nhà nước phải đảm bảo vai trò đặt ra hệ thống chính sách pháp luật tốt.

Nhà nước cũng phải đảm bảo chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thấp. Nếu quá trình xin phép kinh doanh quá khó khăn, việc thanh tra, kiểm tra quá phiền hà, tìm hiểu và thực hiện các quy định quá phức tạp sẽ gây bất lợi cho các DN. Họ sẽ không có động lực để kinh doanh và chi phí cho hoạt động kinh doanh theo hình thức DN là quá đắt đỏ đối với họ.

Nhà nước cũng cần phải đảm bảo hạ tầng tốt (chi phí viễn thông, internet, hệ thống đường xá, nước sạch, nơi làm việc, hệ thống kho bãi, cảng), tạo sự thân thiện cho các DNVVN. Hiện nay, các khu công nghiệp đáp ứng rất tốt yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài, của DN tư nhân có quy mô lơn nhưng đối với các DNVVN gần như ngoài tầm tay của họ. Nhà nước cần phải đảm bảo cơ sở hạ tầng để các DNVVN có thể khai thác, hưởng lợi cũng là 1 thách thức rất lớn . Để giải quyết đc vấn đề này cần sự tham gia của nhiều bộ ngành có liên quan.  Luật hỗ trợ DNVVN cần khẳng định đây là hướng đi chính chứ không kỳ vọng Luật Hỗ trợ DNVVN sẽ giải quyết hết tất cả các vấn đề đã nêu ra.

Một giải pháp nữa được khuyến nghị là đưa ra các chương trình dịch vụ, hỗ trợ dành riêng cho các DNVVN.  Có một số ý kiến lo ngại việc này có thể gây nên sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tuy nhiên, theo nghiên cứu, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam- VCCI khẳng định, các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký cũng như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay Tự do thương mại VN-EU, FTA đều có chương riêng dành cho DNVVN. Việc đưa ra những chương trình hỗ trợ dành riêng cho DNVVN là hoàn toàn hợp pháp, không trái với nguyên tắc mà Việt Nam đang cam kết. Tuy nhiên những chương trình dịch vụ hỗ trợ DNVVN phải có cơ sở, lý do và nó phải thực sự hiệu quả.

Những chương trình hỗ trợ bằng nguồn tài chính công cũng quan trọng  dù ko kỳ vọng nhiều vào chương trình hỗ trợ đến từ nguồn tài chính ngân sách vì Việt Nam vẫn còn là 1 nước nghèo, đang phát triển và chi tiêu không được rộng rãi như các nước phát triển khác. Do đó, tiền hỗ trợ của nhà nước cho các DNVVN cần được tính toán cẩn trọng. Khi triển khai xây dựng luật Hỗ trợ DNVVN cần phải có cách tiếp cận rất khác, rất mới về những chương trình chi tiêu hỗ trợ cho các DNVVN.

3.             Những vấn đề cơ bản trong Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhằm góp phần hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý và thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc ban hành Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là cần thiết.  Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm 7 chương[3], 49 điều với mục tiêu được xây dựng nhằm:

- Đưa ra hệ thống các biện pháp hỗ trợ toàn diện cho DNNVV thông qua thiết lập đồng bộ các chính sách, chương trình hỗ trợ DNNVV trên cơ sở hỗ trợ có chọn lọc, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế của đất nước, lợi thế của từng địa phương và nguồn lực của quốc gia nhằm tăng số lượng và nâng cao chất lượng hoạt động của khu vực DNNVV.

- Xác định rõ trách nhiệm và vai trò của Chính phủ, cơ quan Trung ương và địa phương, các tổ chức xã hội và khu vực tư nhân trong hỗ trợ DNNVV;

- Củng cố hệ thống triển khai chính sách hỗ trợ DNNVV từ Trung ương đến địa phương và tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân.

- Nâng cao hiệu quả điều phối, giám sát và đánh giá thực hiện các hoạt động hỗ trợ DNNVV.

Một số ý kiến còn bàn cãi trong Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa:

·                     Về hỗ trợ tiếp cận tín dụng: hiện tại đang có nhiều tranh cãi, thảo luận cách thức hỗ trợ tiếp cận tín dụng giữa Bộ Kế hoạch đầu tư, Ngân hàng nhà nước…

Nhiều ý kiến cho rằng việc quy định về hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng như dự thảo Luật còn chung chung, không khuyến khích được các NHTM cho DNNVV vay vốn. Để DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụng thì Luật phải quy định thủ tục, hồ sơ vay cần phải đơn giản, quy trình rõ ràng, tài sản thế chấp phải theo giá thị trường và nâng mức cho vay tối đa 100% giá trị tài sản thế chấp, vì thực tế hiện nay mức cho vay chỉ được khoảng 50-70% giá trị tài sản thế chấp; lãi suất vay có bảo lãnh tín dụng phải bảo đảm thấp hơn hoặc bằng các khoản vay có tài sản thế chấp. Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích NHTM thành lập những kênh tài chính riêng cho các DNNVV và tăng mức dư nợ cho loại hình DN này; khuyến khích các NHTM thành lập phòng tín dụng dành cho DNNVV  nhằm tạo điều kiện cho các DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng dễ dàng hơn.

Với số lượng chiếm đa số (hơn 97% tổng số doanh nghiệp) thì các ngân hàng thương mại cần có chính sách phù hợp để các DNNVV tiếp cận tín dụng, nhằm mục tiêu chung phát triển kinh tế-xã hội.

·                     Gói tiếp cận hỗ trợ tài chính:

Có nhiều ý kiến đồng tình với quy định tại dự thảo Luật, theo đó quy định DNNVV được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 3% so với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 5% so với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng việc hỗ trợ các DNNVV trên diện rộng là không khả thi; đề nghị không quy định về ưu đãi thuế trong dự thảo Luật để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật. Đồng thời hỗ trợ giảm thuế là hỗ trợ trực tiếp, mặc dù không nhằm vào hoạt động xuất khẩu, nhưng cần xem xét khả năng dẫn đến khả năng bị áp dụng các biện pháp về chống trợ cấp trong cam kết quốc tế (khoản 1 Điều 2 của Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO).  

Dù tiếp cận theo cách nào cũng phải đảm bảo làm sao khuyến khích các ngân hàng thương mại tăng cường cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vốn vẫn luôn là nhu cầu hàng đầu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình phát triển và lớn mạnh. Nhóm hỗ trợ về tài chính cũng đưa ra những giải pháp về miễn giảm giá thuế và các khoản phải nộp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong từng thời kỳ cụ thể và khuyến khích phát triển đầu tư vào những doanh nghiệp nhỏ và vừa.



[1] http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=2476

Bài: Cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thực chất

[3] Chương 1: Những quy định chung (8 điều).

- Chương II: Nội dung hỗ trợ DNNVV (9 điều).

- Chương III: Chương trình hỗ trợ DNNVV (16 điều).

- Chương IV: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ DNNVV (6 điều).

- Chương V: Ngân sách, cơ chế phối hợp, giám sát và đánh giá hỗ trợ DNNVV (4 điều).

- Chương VI: Khen thưởng và xử lý vi phạm về hỗ trợ DNNVV (3 điều).

- Chương VII: Điều khoản thi hành (3 điều)

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK