Một số hạn chế, bất cập trong quy định về thủ tục trợ giúp pháp lý của Luật Trợ giúp pháp lý
Cập nhật : 19:39 - 16/12/2016

 

 

Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Trợ giúp pháp lý  là một phần quan trọng trong chính sách của nhà nước ta nhằm tăng cường hệ thống tư pháp, các quyền dân chủ và một hệ thống tư pháp phục vụ nhân dân[1].  Tuy nhiên, công tác trợ giúp pháp lý hiện nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập. Do đó, việc sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý nhằm tạo khuôn khổ pháp lý để công tác trợ giúp pháp lý được chuyên nghiệp hóa, là hết sức cần thiết.

1.             Một số hạn chế trong quy định về thủ tục trợ giúp pháp lý

a.             Hạn chế trong quy định về yêu cầu trợ giúp pháp lý

Điều 33, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đề  cập đến nghĩa vụ của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý là phải có đơn và giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý nhưng chưa quy định rõ họ phải nộp đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý đến cơ quan nào; hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý gồm những gì; ngoài bản thân người được trợ giúp pháp lý, ai có thể yêu cầu trợ giúp pháp lý cho họ… Mặc dù các vấn đề này được hướng dẫn ở các văn bản dưới luật (Thông tư số 05/2008/TT-BTP, Thông tư số 19/2011/TT-BTP) nhưng quy định tản mạn và chưa rõ ràng.

Theo quy định ở một số quốc gia về thủ tục yêu cầu trợ giúp pháp lý đều phải tuân thủ những điều kiện, trình tự nhất định. Điều 14, 15 Luật trợ giúp pháp lý của Indonexia quy định rõ người muốn trợ giúp pháp lý phải có đơn xin trợ giúp pháp lý, có các giấy tờ liên quan đến vụ việc kèm theo. Người yêu cầu trợ giúp pháp lý nộp đơn đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Tổ chức trợ giúp pháp lý có trách nhiệm trả lời về việc chấp nhận hoặc từ chối đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý trong thời gian nhất định. Luật trợ giúp pháp lý Hungary quy định cơ quan thụ lý việc xin trợ giúp pháp lý (Điều 21); đơn xin trợ giúp pháp lý (Điều 22); Trình tự, thủ tục kiểm tra điều kiện trợ giúp pháp lý (Điều 23 và Điều 26); Xác minh thông tin trong đơn xin trợ giúp pháp lý (Điều 26).

b.            Hạn chế trong quy định về thụ lý yêu cầu trợ giúp pháp lý

Điều 34 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 chưa quy định cụ thể thời hạn trả lời yêu cầu trợ giúp pháp lý, cũng như trường hợp cần giảm bớt thủ tục hành chính để thụ lý ngay dù người có yêu cầu trợ giúp pháp lý chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ theo quy định của Luật. Như vậy, quy định này chưa đảm bảo kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý. Mặc dù quy định về trường hợp khẩn cấp cần thụ lý ngay đã được quy định trong Thông tư số 05/2008/TT-BTP nhưng hiệu lực pháp lý chưa rõ ràng. Bên cạnh đó, quy định về từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý tại Điều 45 của Luật chưa xác định rõ trường hợp nào là trường hợp  từ chối thụ lý, trường hợp nào không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý.

c.             Hạn chế trong quy định về hình thức tham gia tố tụng của người thực hiện trợ giúp pháp lý

Năm 2006, vai trò của trợ giúp viên pháp lý chưa được quy định chính thức trong Luật về tố tụng, do đó, Điều 29 và 39 của Luật Trợ giúp pháp lý quy định theo hướng xác định vai trò , trình tự, thủ tục để trợ giúp viên pháp lý và luật sư tham gia vào quá trình tố tụng. Hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật tố tụng hành chính năm 2015 đã ghi nhận vai trò của trợ giúp viên pháp lý với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tương đương với luật sư trong quá trình tham gia tố tụng. Đồng thời, Bộ luật tố tụng hình sự đã dành các quy định khác nhau về thời hạn cử người bào chữa đối với các trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, nội dung này chưa được đề cập đến trong các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.

d.            Hạn chế trong quy định về chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý

Điều 37, Luật Trợ giúp pháp lý hiện hành quy định về việc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý bằng văn bản kèm theo hồ sơ  cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương khác để thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 26 và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.Tuy nhiên, điểm c Khoản 1 Điều 26 chỉ quy định chung chung là vụ việc do tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác chuyển đến mà chưa xác định rõ trường hợp nào thì chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý.

2.             Kiến nghị sửa đổi

a.     Quy định về yêu cầu trợ giúp pháp lý

Qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước, đề xuất yêu cầu trợ giúp pháp lý có thể do người được trợ giúp pháp lý tự thực hiện hoặc nhờ người thân, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý; cách thức yêu cầu có thể trực tiếp tại trụ sở tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc gián tiếp thông qua hệ thống trực tuyến điện tử. Hồ sơ được quy định rõ để người yêu cầu trợ giúp pháp lý chuẩn bị cả hai trường hợp nộp trực tiếp hoặc gián tiếp tạo sự công khai, minh bạch.

b.    Quy định về thụ lý yêu cầu trợ giúp pháp lý

Trên cơ sở kế thừa các nội dung tại Điều 34 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, vấn đề thụ lý việc trợ giúp pháp lý nên được sửa đổi, bổ sung như sau:

-                      Khoản 1, Điều 34 cần quy định rõ điều kiện thụ lý yêu cầu trợ giúp pháp lý. Đây là căn cứ quan trọng giúp người thực hiện trợ giúp pháp lý xác định một người có vướng mắc pháp luật tìm đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có thực sự đủ điều  kiện để được trợ giúp pháp lý hay không. Đây cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý có thể giám sát việc cung cấp dịch vụ pháp lý có đúng đối tượng được trợ giúp pháp lý hay không.

-                      Khoản 2, Điều 34 đề nghị quy định về việc người tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý phải xem xét, trả lời ngày cho người có yêu cầu về việc hồ sơ đủ điều kiện để thụ lý hoặc phải bổ sung thêm giấy tờ, tài liệu có liên quan và thông báo rõ lý do bằng văn bản trong trường hợp từ chối thụ lý.

-                      Bổ sung Khoản 3 quy định về các trường hợp yêu cầu trợ giúp pháp lý cần được thụ lý ngay để tránh gây thiệt hại  đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý nhằm bảo đảm tốt nhất quyền được trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý.

c.             Quy định về hình thức tham gia tố tụng của người thực hiện trợ giúp pháp lý

Trên cơ sở thừa kế những nội dung còn phù hợp tại Điều 29 và Điều 39 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức tham gia tố tụng cho phù hợp với các quy định của pháp luật.

-                      Khoản 2, Điều 39: quy định về thời hạn tổ chức thức hiện trợ giúp pháp lý phải cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng  để kịp thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý  trong quá trình tố tụng, phù hợp với pháp luật tố tụng cũng như đảm bảo tính khả thi.

-                      Khoản 3, Điều 39 cần quy định cụ thể thời hạn cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo  cho Trung tâm trợ giúp pháp lý ở địa phương để đề nghị cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng, để người thực hiện trợ giúp pháp lý kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.

d.    Quy định về chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý

Đối với quy định về chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý, kiến nghị sửa đổi theo hướng xác định trường hợp cụ thể:

(i)             Trường hợp từ chối yêu cầu trợ giúp pháp lý vì người được trợ giúp pháp lý không cư trú tại địa phương và vụ việc không xảy ra tại địa phương, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển yêu cầu đến Trung tâm trợ giúp pháp lý có thẩm quyền;

(ii)            Trường hợp không đủ nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương đó;

(iii)           Trường hợp địa phương không đủ nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý Trung ương để phân công tổ chức thực hiện  trợ giúp pháp lý khác thực hiện.

Trong cả 03 trường hợp chuyển yêu cầu trợ pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cần thông báo cho người có yêu cầu  trợ giúp pháp lý biết.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK