Một số ý kiến về mối quan hệ giữa dự thảo Luật việc làm với Bộ luật lao động
Cập nhật : 10:18 - 31/08/2012

Theo Chương trình xây dựng luật,pháp lệnh năm 2012, dự án Luật việc làm sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2012). Hiện nay cơ quan soạn thảo đã xây dựng dự thảo 4 của Luật việc làm và đã trình Chính phủ cho ý kiến. Đây là dự án Luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về việc làm do đó có mối liên quan rất chặt chẽ tới các luật khác như Bộ luật lao động (BLLĐ), Luật bảo hiểm xã hội (BHXH), Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (HĐ), Luật dạy nghề…. Trong phạm vi bài viết này, xin nêu một số ý kiến tập trung về mối quan hệ giữa dự thảo Luật việc làm với BLLĐ như sau :

1. BLLĐ (sửa đổi) có phạm vi điều chỉnh quy định về quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động đã được QH khoá 13 thông qua tại kỳ họp tháng 6/2012.  Tuy có thu hẹp phạm vi điều chỉnh so với BLLĐ năm 1994 (và đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần) trước đây, nhưng Bộ luật này vẫn mang tính chất là đạo luật gốc về quan hệ lao động, trong đó có những quy định khung, mang tính nguyên tắc về những vấn đề đã hoặc sẽ được điều chỉnh bằng các đạo luật riêng như: BHXH, việc làm, tiền lương, đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo HĐ…Mối quan hệ này có tính chất tương tự như mối quan hệ giữa BLDS với Luật sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ, Luật thương mại….Quá trình pháp điển hoá về nội dung các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) quy định về cùng một loại quan hệ xã hội vào các Bộ luật, sau một thời gian thực hiện lại tách các chế định tương đối độc lập trong các Bộ luật đó thành các VBQPPL riêng biệt để sửa đổi, bổ sung, phát triển nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn cũng là xu thế khách quan, phù hợp với sự phát triển của hệ thống pháp luật. Đi đôi với quá trình này là kỹ thuật pháp điển hoá về hình thức nhằm bảo đảm việc thuận tiện cho quá trình tra cứu, áp dụng và thực hiện pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức (UBTVQH đã thông qua Pháp lệnh pháp điển hoá VBQPPL).

Với tính chất của BLLĐ là đạo luật gốc quy định về quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động nên BLLĐ có các quy định khung, mang tính nguyên tắc về quan hệ xã hội về việc làm bao gồm: vấn đề việc làm (thành 1 chương trong BLLĐ); vấn đề bảo hiểm thất nghiệp (trong chương BHXH của BLLĐ); vấn đề việc làm của người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo HĐ; vấn đề việc làm của lao động là người Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (trong chương Những quy định riêng với lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác); vấn đề phát triển kỹ năng nghề ….Những nội dung này cũng là những vấn đề đang được dự thảo Luật việc làm quy định. Từ tính chất mối quan hệ giữa dự thảo Luật việc làm và BLLĐ như đã nêu trên, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật (nhất là khi BLLĐ vừa được Quốc hội thông qua và vẫn chưa có hiệu lực thi hành), tôi cho rằng, các quy định của dự thảo Luật việc làm phải trên cơ sở cụ thể hoá các nguyên tắc chung về quan hệ việc làm được quy định trong BLLĐ, phải phù hợp và không được trái, mâu thuẫn với các quy định của BLLĐ (không thể lấy lý do là Luật việc làm là luật được ban hành sau thì sẽ áp dụng các quy định của Luật việc làm trong trường hợp giữa 2 luật có mâu thuẫn nhau).

 2. Đối chiếu với các quy định của BLLĐ thì một số quy định của dự thảo Luật việc làm là không thống nhất và nhiều nội dung của BLLĐ về quan hệ việc làm không được cụ thể hoá trong dự thảo Luật việc làm. Cụ thể như sau:

2.1. Về chính sách của Nhà nước về việc làm.

BLLĐ quy định về “Chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển việc làm”, trong khi Luật việc làm quy định về “Chính sách của Nhà nước về việc làm” với nội dung các chính sách này không thống nhất với nhau. Cụ thể là:

- Tên gọi các chính sách này là khác nhau

- BLLĐ quy định về chỉ tiêu tạo việc làm trong kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm; Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề. Dự thảo luật không quy định về vấn đề này mà chỉ nêu rất chung là  Xác định mục tiêu phát triển việc làm  là nội dung trong các chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH”.v.v.

2.2. Về chương trình việc làm

BLLĐ quy định về Chương trình việc làm (do UBND tỉnh xây dựng, trình HĐND quyết định), trong khi đó Luật việc làm hoàn toàn không đề cập tới Chương trình này mà quy định về một vấn đề mới: Chương trình việc làm công. Nội hàm của chương trình này cũng không thể hiện rõ thế nào là “công”?

2.3. Về dịch vụ việc làm

BLLĐ quy định về Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy định của Chính phủ. Trong khi đó Luật việc làm gọi Trung tâm này là Tổ chức dịch vụ công về việc làm và giao Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức này. Bên cạnh đó trong dự thảo lại có những điều quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của tổ chức này.

2.4. Về bảo hiểm thất nghiệp

BLLĐ có Chương XII quy định về BHXH. Theo quy định tại Điều 186 BLLĐ thì: “Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế”. Như vậy, theo BLLĐ thì bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một loại hình của BHXH và vẫn có tên gọi là BHTN. Hiện nay, BHTN được quy định cụ thể trong Luật BHXH. Tuy nhiên, theo Tờ trình và dự thảo thì BHTN sẽ được chuyển thành bảo hiểm việc làm (BHVL) và được quy định trong Luật việc làm. Như vậy, có sự mâu thuẫn về tên gọi (tên gọi cũng thể hiện cả nội dung của chế định) của loại hình bảo hiểm này.

2.5. Về vấn đề tuyển, đăng ký sử dụng lao động

Những quy định về vấn đề này giữa BLLĐ và dự thảo Luật việc làm vừa trùng lắp, vừa không thống nhất, mâu thuẫn rất khó cho việc áp dụng và thực hiện pháp luật. Ví dụ, về vấn đề lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Điều 170 BLLĐ quy định:

“ 1. Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu trong nước chỉ được tuyển lao động là công dân nước ngoài vào làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

2. Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu nước ngoài trước khi tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài vào làm việc trên lãnh thổ Việt Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Trong khi đó, dự thảo Luật việc làm không quy định về vấn đề này. Đối với điều kiện của lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt nam thì Điều 169 BLLĐ và Điều 75 dự thảo cũng có nội dung không thống nhất.

2.6. Về vấn đề liên quan tới hợp đồng lao động (HĐLĐ)

- Dự thảo quy định “Người lao động tham gia BHVL là người làm việc theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên…”. Theo quy định của BLLĐ thì hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng có thời hạn phải từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng chỉ có thể là hợp đồng theo theo công việc hoặc mùa vụ. Việc bắt buộc người làm việc theo mùa vụ hoặc công việc nhất định với thời hạn hợp đồng dưới 12 tháng phải đóng BHVL sẽ là không hợp lý vì những người này sẽ rất khó được hưởng bảo hiểm khi dự thảo quy định điều kiện hưởng đối với người thất nghiệp là “đã đóng BHVL từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc”.

Trong khi những người làm việc theo mùa vụ hoặc công việc nhất định vẫn phải đóng bảo hiểm, nhưng không có cơ hội hưởng bảo hiểm như vậy thì đồng thời họ cũng sẽ không được hưởng một quyền lợi do BLLĐ quy định là: “Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định”.

- Tại điểm b khoản 3 Điều 117, về hồ sơ hưởng chế độ đối với người thất nghiệp: dự thảo sửa quy định hiện hành từ “xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc đúng pháp luật” thành “ xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc không do chủ ý của người lao động”. Việc sửa đổi này là không hợp lý và không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động vì theo quy định của BLLĐ thì nhiều trường hợp người lao động có quyền hợp pháp đơn phương chấm dứt HĐLĐ (tức là chủ ý) do người sử dụng lao động vi phạm quyền của người lao động.

2.7. Về các vấn đề khác

- Trong dự thảo luật việc làm có nhiều quy định đi ra ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật việc làm nên vừa thừa, vừa không đầy đủ bằng quy định của BLLĐ; có những quy định diễn giải khác đi so với BLLĐ nên không chính xác hoặc  sai về nội dung. Có thể nêu một số ví dụ như sau:

+ Trong nguyên tắc về việc làm, Khoản 2 Điều 4 dự thảo quy định “Người lao động  được bảo đảm cơ hội việc làm, làm việc trong điều kiện an toàn”. Đúng ra Luật việc làm chỉ nên đề cập đến cơ hội việc làm còn khi đã có việc làm thì người lao động có quyền gì sẽ do  BLLĐ quy định. Việc quy định “làm việc trong điều kiện an toàn” là thiếu vì đây cũng chỉ là một quyền của người lao động khi làm việc. Trong khi đó, BLLĐ quy định người lao động được “Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể. . v.v.

+ Trong chính sách của Nhà nước về việc làm, Khoản 4 Điều 5 dự thảo quy định “ Hỗ trợ phát triển thị trường lao động trong và ngoài nước”. Nhà nước Việt Nam làm cách nào để có thể can thiệp, hỗ trợ phát triển thị trường lao động của nước ngoài?. Đối với vấn đề này, cách quy định của BLLĐ là chính xác hơn: “Hỗ trợ người sử dụng lao động, người lao động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ở nước ngoài.”

- Một số khái niệm được sử dụng không thống nhất giữa BLLĐ, Luật việc làm sẽ gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng pháp luật như khái niệm “người lao động”:

+ Theo BLLĐ: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”.

+ Theo Luật việc làm: “Người lao động là công dân Việt Nam  từ đủ 15 tuổi trở lên, đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc

+ Điều 87 dự thảo Luật việc làm quy định: “BHVL là bảo hiểm bắt buộc mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”. Tuy nhiên, đến Đ 88, dự thảo lại quy định “người lao động tham gia BHVL là người làm việc theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc …

- Nhiều quy định của dự thảo còn chung chung, không đầy đủ so với các quy định hiện hành về vấn đề này; thậm chí có những quy định còn không cụ thể khi so sánh với các quy định của BLLĐ:

+ Khi vấn đề BHTN được quy định trong Luật BHXH thì các quy định trong Chương Những quy định chung cũng được áp dụng cho BHTN. Trong Luật việc làm, khi chuyển các quy định BHTN thành BHVL đã bỏ sót không quy định những vấn đề được quy định trong Chương những quy định chung. Cụ thể quy định về BHVL không có (thiếu) các quy định về: Quyền, trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động, tổ chức BHVL, cơ quan QLNN trong BHVL; Vấn đề hiện đại hoá BHVL; Khiếu nại, tố cáo và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHVL.v.v.

+ BHVL có 1 số sửa đổi, bổ sung so với BHTN. Tuy nhiên nhiều sửa đổi, bổ sung còn bất hợp lý hoặc cần phải được cân nhắc thận trọng:

* Quy định mọi người sử dụng lao động kể cả chỉ sử dụng 1 lao động cũng phải đóng BHVL có khả thi không? Việc mở rộng phạm vi chế độ BHVL bao gồm cả hỗ trợ duy trì việc làm với những chế độ hỗ trợ rất chung chung là vấn đề cần phải được đánh giá tác động về mọi mặt nhằm bảo đảm hiệu quả, khả thi, tránh bị lạm dụng làm mất an toàn quỹ.

* Dự thảo sửa đổi quy định của luật hiện hành:  chi phí quản lý BHTN bằng mức chi phí quản lý của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước” thành quy định: “ cơ chế quản lý BHVL do Thủ tướng Chính phủ quy định” cũng là vấn đề cần được cân nhắc nhằm bảo đảm tínhchặt chẽ của quy định và  đảm bảo tính thống nhất với quy định về quản lý quỹ BHXH, BHYT (đang được các Luật BHXH, Luật BHYT quy định với chi phí quản lý bảo hiểm bằng mức chi phí quản lý của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước).

* Tại Đièu 102 dự thảo, so với quy định về BHTN hiện hành thì dự thảo bỏ quy định: trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do có việc làm thì người lao động sẽ được hưởng trợ cấp 1 lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Điều 82 Luật BHXH. Việc bỏ quy định này sẽ rất bất công trong nhiều trường hợp, ví dụ: 1 người lao động đã đóng BHVL hàng chục năm, bị mất việc. Khi đăng ký hưởng BHTN và dược hưởng chế độ khoảng 1 vài tháng, họ lại tìm được việc làm. Như vậy, họ sẽ chấm dứt hưởng trợ cấp và thời gian đóng sẽ được tinh lại từ đầu. Sau đó, nếu họ làm việc chưa đủ 12 tháng mà mất việc thì họ sẽ không được hưởng bất kỳ một chế độ trợ cấp nào nữa.

* Luật BHXH quy định về việc không phải đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động khi người lao động nữ nghỉ chế độ thai sản và thời gian nghỉ này vẫn được tính là thời gian đóng BHXH. Dự thảo luật không quy định về vấn đề này trong BHVL.

Trên đây là một số ý kiến về mối quan hệ giữa dự thảo Luật việc làm và BLLĐ, xin được trao đổi, góp ý với cơ quan soạn thảo để cân nhắc, xem xét hoàn thiện dự án luật trước khi trình Quốc hội cho ý kiến,

 

Nguyễn Mạnh Cường-UBTP

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK