Lý luận và thực tiễn công tác giám sát phòng chống tham nhũng; thẩm quyền giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng của Uỷ ban tư pháp
Cập nhật : 10:28 - 27/08/2012
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại phiên họp lần thứ 18Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại phiên họp lần thứ 18

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giám sát phòng, chống tham nhũng

Điều 74 Luật phòng, chống tham nhũng (PCTN) quy định thẩm quyền, trách nhiệm giám sát PCTN của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH; Luật tổ chức Quốc hội quy định Uỷ ban tư pháp của Quốc hội (UBTP) giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Quy định của pháp luật về công tác giám sát PCTN của Quốc hội xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:

1.1. Về cơ sở lý luận

Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quyền lập pháp của Quốc hội, cũng giống như của Nghị viện các nước trên thế giới xuất phát từ vị trí của Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Ở nước ta, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất nhưng có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong bộ máy Nhà nước, vị trí Quốc hội được xác định là cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Từ vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan duy nhất có chức năng lập hiến và lập pháp, Quốc hội được Hiến pháp quy định là cơ quan có chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, nhằm bảo đảm thực chất quyền lực lập pháp của Quốc hội, bảo đảm cho Hiến pháp, luật, các nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và các nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên toàn quốc. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại các kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của UBTVQH, HĐDT, các Uỷ ban của QH, Đoàn ĐBQH và các ĐBQH.

PCTN là một trong các hoạt động của Nhà nước. Với phạm vi giám sát toàn bộ hoạt động của nhà nước, đương nhiên Quốc hội có chức năng giám sát công tác PCTN.

1.2. Về cơ sở thực tiễn

Với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đặc biệt là từ sau Hiến pháp năm 1992, hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung đối với bộ máy nhà nước ngày càng đi vào thực chất và có hiệu quả hơn. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã giúp cho các cơ quan nhà nước tăng cường trách nhiệm, từng bước thực thi có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của mình vì lợi ích của đất nước, của nhân dân.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển KT -XH, vẫn còn nhiều trở ngại cản trở sự phát triển của đất nước mà một trong những rào cản lớn nhất đó là hiện tượng “tham nhũng”. Không chỉ đối với Việt Nam, mà đối với tất cả các nước trên thế giới, tham nhũng luôn là mối đe dọa lớn đối với sự phát triển, làm chậm trễ tiến trình tăng trưởng kinh tế, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền và pháp luật. Nhận rõ tác hại nguy hiểm của tệ nạn tham nhũng, Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã nhận định: “nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống chính trị”; đồng thời xác định rõ nhiệm vụ “phải tiến hành đấu tranh kiên quyết, thường xuyên và có hiệu quả chống nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước, trong các ngành, các cấp từ trung ương đến cơ sở”. Qua thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”. Về phía xã hội, nhân dân cũng đặc biệt quan tâm đến công cuộc chống tham nhũng của Nhà nước, coi tham nhũng là quốc nạn và mong muốn Nhà nước phải đặt vấn đề này là một trong những quan tâm hàng đầu, có những biện pháp kiên quyết, triệt để để đẩy lùi tệ tham nhũng. Như vậy, có thể coi đấu tranh chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, một trong những thách thức lớn của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ này cũng đặt ra trong điều kiện về đặc điểm  hệ thống chính trị của nước ta là có duy nhất một Đảng lãnh đạo.

Trong bối cảnh nêu trên thì việc tăng cường, tập trung hoạt động giám sát của Quốc hội vào công tác PCTN nhằm bảo đảm nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội đối với nhiệm vụ quan trọng này là vấn đề hết sức cần thiết. Đây cũng chính là sự thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân Việt Nam xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, một nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Chính vì vậy, ngay từ năm 1998, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh chống Tham nhũng (và được sửa đổi, bổ sung năm 2000). Tới năm 2005, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá 11 đã thông qua Luật PCTN (và được sửa đổi, bổ sung năm 2007), trong đó đã khẳng định rõ trách nhiệm giám sát của Quốc hội, UBTVQH, UBTP của Quốc hội, HĐDT và các Uỷ ban khác của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH đối với công tác PCTN. Thực hiện quy định của pháp luật, hoạt động giám sát PCTN của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH đã từng bước được tăng cường và bước đầu đạt được những kết quả nhất định. Dưới sự giám sát của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, nghành hữu quan đã quan tâm đẩy mạnh công tác PCTN trên mọi lĩnh vực, với nhiều biện pháp đồng bộ. Tuy nhiên, kết quả công tác PCTN vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được sự mong nỏi của nhân dân.

2. Thẩm quyền giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng của UBTP

2.1. Quy định của pháp luật

Luật tổ chức Quốc hội và Luật PCTN giao thẩm quyền giám sát PCTN cho nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm: Quốc hội, UBTVQH, HĐDT, các Uỷ ban của QH, Đoàn ĐBQH, các ĐBQH và HĐND các cấp. Mỗi chủ thể nêu trên có vị trí, vai trò và thẩm quyền khác nhau trong hoạt động giám sát PCTN. Để tập trung đẩy mạnh hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với công tác PCTN, tránh việc giám sát dàn trải thì Luật tổ chức Quốc hội và Luật PCTN đã giao nhiệm vụ cho một uỷ ban chuyên trách của Quốc hội phụ trách công tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng – đó là UBTP. Để hiểu đầy đủ về thẩm quyền của UBTP trong việc giám sát phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, cần căn cứ vào quy định của Luật PCTN, Luật TCQH, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Quy chế hoạt động của HDDT và các UB của Quốc hội, cụ thể như sau:

- Về phạm vi giám sát: UBTP ngoài nhiệm vụ giám sát công tác phòng ngừa thuộc lĩnh vực mình phụ trách, còn có nhiệm vụ giám sát phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng (khác với HDDT, UB khác của Quốc hội chỉ giám sát công tác phòng ngừa TN thuộc lĩnh vực mình phụ trách; còn Quốc hội, UBTVQH thì giám sát chung công tác PCTN trong phạm vi cả nước). Như vậy, phạm vi giám sát của UBTP bao gồm các hoạt động phòng ngừa TN; các hoạt động phát hiện TN (bao gồm: công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đon vị; hoạt động phát hiện TN thông qua thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát; việc giải quyết tố cáo về hành vi TN); xử lý hành vi TN (bao gồm các hình thức: xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, xử lý tài sản TN). Bên cạnh đó, UBTP còn có nhiệm vụ giám sát đặc thù đó là: Thẩm tra báo cáo hàng năm của Chính phủ về công tác PCTN.

- Về phương thức giám sát: Thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về công tác PCTN; Xem xét VBQPPL của Chính phủ, TTCP, Bộ Công an, Thanh tra NN, Kiểm toán NN, TANDTC, VKSNDTC và các Bộ, ngành hữu quan về PCTN; yêu cầu CP, TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an, Thanh tra NN, Kiểm toán NN, TANDTC, VKSNDTC và các Bộ, ngành hữu quan báo cáo về hoạt động PCTN; Tổ chức Đoàn giám sát; cử thành viên đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, xác minh vấn đề mà Uỷ ban quan tâm; tổ chức nghiên cứu, xử lý và xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về PCTN.

- Về thẩm quyền trong hoạt động giám sát :Yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan báo cáo, cung cấp thông tin; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đình chỉ, huỷ bỏ hoặc sửa đổi VBQPPL sai trái; Yêu cầu chấm dứt hành vi VPPL, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; Kiến nghị UBTVQH xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; Kiến nghị CP, TANDTC, VKSNDTC các vấn đề về PCTN.

Như vậy, so với HĐDT, các UB khác của Quốc hội thì thẩm quyền giám sát về PCTN của UBTP không có gì đặc thù, điểm khác biệt ở đây chỉ là đối tượng giám sát: giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác tự kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, đon vị này nhằm phát hiện TN; giám sát việc phát hiện TN thông qua hoạt động thanh tra của cơ quan TT, kiểm toán của cơ quan KT, điều tra của cơ quan ĐT, kiểm sát của VKS, xét xử của TA; giám sát việc giải quyết tố cáo về hành vi TN của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; giám sát việc xử lý xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, xử lý tài sản TN của các cơ quan, tổ chức hữu quan.

            2.2. Thực tiễn hoạt động giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng của UBTP và những hạn chế, khó khăn

Thực hiện quy định của Luật PCTN, Luật TCQH, Luật HĐGS của Quốc hội và các VBPL có liên quan, trong những năm qua, tuy mới thành lập nhưng hoạt động của UBTP đã từng bước được tăng cường và có hiệu quả trong nhiệm vụ giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Trên thực tế, hoạt động giám sát của UB được thực hiện dưới các hình thức sau đây:

- Thực hiện giám sát chuyên đề về PCTN và tiến hành các cuộc khảo sát thực tế tại các bộ, nghành và địa phương về công tác PCTN

- Thẩm tra Báo cáo công tác PCTN hàng năm của Chính phủ; xem xét các báo cáo, nghe giải trình của các cơ quan có trách nhiệm trong công tác PCTN

- Thực hiện kết hợp giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng khi tiến hành các hoạt động giám sát hoạt động điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án của các cơ quan tư pháp

- Theo dõi, giám sát việc giải quyết các vụ án tham nhũng nổi cộm, gây bức xúc trong nhân dân

- Các đại biểu thành viên của Uỷ ban tham gia hoạt động chất vấn về công tác PCTN tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp UBTVQH

Tuy nhiên, so với yêu cầu thì hiệu quả hoạt động giám sát PCTN còn hạn chế; UB vẫn chưa tiến hành được nhiều cuộc giám sát; chưa đưa ra được nhiều kiến nghị xác đáng để nâng cao hiệu quả công tác PCTN; việc theo dõi, đôn đốc thực hiện đối với các kiến nghị giám sát vẫn chưa sát sao. Công tác giám sát vẫn gặp nhiều hạn chế, khó khăn. Cụ thể là:

- Trong giám sát, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm trong công tác PCTN là rất quan trọng. Hiệu quả này thể hiện từ việc xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách để phòng ngừa tham nhũng, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách và tác động thực tế của cơ chế, chính sách tới việc phòng ngừa TN, cho đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm trong PCTN, đặc biệt là các cơ quan chuyên trách PCTN như Ban chỉ đạo PCTN, cơ quan chuyên trách trong TT, VKS, CQĐT…Đối với nhiều lĩnh vực KT – XH, Quốc hội ban hành NQ về các chỉ tiêu cần đạt được, qua đó rất thuận lợi cho công tác giám sát. Đối với công tác PCTN, hiện nay việc đánh giá hiệu quả công tác này một cách khoa học còn gặp rất nhiều khó khăn. UBTP đã nhiều năm kiến nghị CP xây dựng các tiêu chí nhận định tình hình TN và đánh giá công tác PCTN và mãi gần đây (11/2011), TTCP mới ban hành được Thông tư số 11/2011/TT-TTCP quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, hiệu quả, tính khả thi và chính xác của Thông tư  này vẫn chưa được thực tế kiểm nghiệm. Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật về PCTN vẫn chưa đầy đủ, hoàn thiện, đồng bộ. Đây cũng là khó khăn trong hoạt động giám sát PCTN (bản chất là hoạt động theo dõi, đánh giá việc thực hiện có đúng các quy định của pháp luật hay không).

- Các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã thể hiện rõ quyết tâm đẩy mạnh công tác PCTN và đây cũng là vấn đề được cán bộ và nhân dân rất quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tiễn, do nhiều lý do khác nhau nên nhận thức và sự kiên quyết của nhân dân về PCTN vẫn còn hạn chế; sự quan tâm và sự quyết liệt của lãnh đạo, của các cấp, các nghành đối với công tác này chưa đáp ứng yêu cầu, còn có sự nể nang, e ngại trong đấu tranh chống TN. Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu trong trường hợp để xảy ra TN trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình trực tiếp quản lý còn chưa nghiêm.

Ngay trong hoạt động của Quốc hội, thì công tác này vẫn chưa dành được sự quan tâm thoả đáng. Các Báo cáo hàng năm của CP về công tác PCTN chủ yếu mới chỉ được UBTP thẩm tra và gửi tới ĐBQH nghiên cứu và phát biểu, thảo luận kết hợp trong các phiên thảo luận về tình hình KT-XH, chưa được được đưa ra thảo luận riêng và truyền hình trực tiếp tại phiên họp Quốc hội.

- Vai trò của báo chí, công luận đối với công tác PCTN là rất quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện chính trị ở nước ta chỉ có một Đảng lãnh đạo. Báo chí, công luận sẽ tạo sức ép để các cơ quan dân cử phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình, đồng thời cũng tạo sức ép cho các cơ quan hành pháp, tư pháp phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Hiện nay, tuy đã có sự đổi mới tích cực về vấn đề này, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Việc tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa cho báo chí; việc hợp tác, tiếp xúc giữa báo chí, người dân với các cơ quan của Quốc hội; việc xây dựng kênh truyền hình riêng của Quốc hội; việc cho phép người dân dự thính, theo dõi trực tiếp các phiên họp Quốc hội …là những vấn đề cần phải được nghiên cứu.

- Một số quy định của pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH vẫn còn hình thức, chưa có cơ chế thực hiện để đảm bảo thực quyền của Quốc hội: ví dụ, pháp luật quy định về thẩm quyền của Quốc hội trong việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, tuy nhiên với quy trình, thủ tục như luật định thì thẩm quyền này rất khó thực hiện trên thực tế; hoặc với cơ cấu ĐBQH, cơ chế bầu cử ĐBQH và các cơ chế, chính sách như hiện nay thì trong nhiều trường hợp cũng rất khó tạo động lực cho ĐBQH hoạt động và cũng khó cho các đại biểu, nhất là các ĐBQH ở địa phương mạnh dạn nói thẳng, nói thật, phát biểu phê phán người đứng đầu các bộ, nghành do lo ngại ảnh hưởng tới địa phương…

- Hoạt động của UBTP về giám sát PCTN cũng gặp nhiều khó khăn về tổ chức, về bộ máy giúp việc, về chế độ chi tiêu và kinh phí hoạt động… PCTN là vấn đề lớn, có phạm vi rộng, đòi hỏi phải tập trung nhiều nhân lực, thời gian và kinh phí. Tuy nhiên, UBTP là UB có ít thành viên (do tính chất công việc của UB nên không có nhiều ĐBQH có nguyện vọng là thành viên UB). Mặt khác, thành viên UB lại chủ yếu là đại biểu kiêm nhiệm tại các cơ quan tư pháp ở địa phương, rất bận rộn với công việc tại cơ quan mình. Vụ giúp việc thiếu về biên chế, nhưng UB cũng không có điều kiện để thu hút chuyên gia giỏi về lĩnh vực tư pháp về làm việc tại Vụ. Vì vậy, trong hoạt động giám sát PCTN, UBTP mới chỉ chủ yếu tiến hành hoạt động giám sát trên cơ sở căn cứ vào các Báo cáo của các cơ quan Nhà nước ở TƯ và địa phương và một phần trên cơ sở tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và các nguồn từ báo chí. Trong giám sát PCTN thì việc tìm hiểu thực tiễn từ người dân, từ các doanh nghiệp, tổ chức là một nguồn rất quan trọng, tuy nhiên công việc này UB cũng chưa có điều kiện để tiến hành. Việc thuê chuyên gia, các tổ chức độc lập để điều tra XHH, khảo sát hầu như chưa được thực hiện do có những khó khăn, vướng mắc về cơ chế tài chính... Sự huy động các đoàn thể, các tổ chức xã hội tham gia giám sát cũng còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau.v.v.

3. Một số kiến nghị

Từ thực tiễn hoạt động giám sát và những khó khăn, bất cập trong giám sát PCTN như đã nêu ở trên, xin đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát của UBTP đối với việc phát hiện và xử lý hành vi TN như sau:

- Về thể chế:

            + Cần khẩn trương sửa đổi những hạn chế, bất cập của pháp luật về PCTN, mà trước hết là Luật PCTN từ các biện pháp phòng ngừa, việc phát hiện, xử lý tham nhũng cho đến bộ máy chỉ đạo PCTN.

            + Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhằm bảo đảm Quốc hội có thể thực hiện đúng thực quyền của mình trên thực tế như: sửa đổi về cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm; sửa đổi các quy định của Luật bầu cử ĐBQH và các quy định về điều kiện hoạt động của ĐBQH để bảo đảm tính độc lập của ĐBQH….

            + Quy định về cơ chế phối hợp công tác giữa UBTP với các cơ quan hữu quan có trách nhiệm phát hiện, xử lý hành vi TN đặc biệt là với cơ quan Thanh tra, Kiểm toán, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc cung cấp thông tin, tham gia các Đoàn giám sát, khảo sát, ban hành văn bản quy phạm pháp luật…Xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan hữu quan trong công tác này.

+ Để bảo đảm hiệu quả của hoạt động giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, cần bổ sung cho UBTP thẩm quyền yêu cầu Kiểm toán NN, Thanh tra Chính phủ thực hiện hoạt động kiểm toán, thanh tra, kiểm tra khi cần thiết (hiện nay, Luật KTNN chỉ quy định về thẩm quyền của Quốc hội, UBTVQH trong việc yêu cầu KTNN thực hiện kiểm toán…).

- Về hình thức, phương thức giám sát:

+ Tăng cường đồng bộ các hình thức giám sát (Đoàn giám sát, khảo sát, nghe báo cáo, giải trình, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo…). Việc giám sát cần tiến hành theo kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. Bên cạnh việc nghe, xem xét các báo cáo của các cơ quan Nhà nước, cần chú trọng tới các nguồn thông tin khác có liên quan về công tác phòng, chống tham nhũng như báo chí; nghiên cứu của các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế, của các Viện nghiên cứu…

Tăng cường các kênh, các hoạt động tiếp xúc với cử tri, sử dụng chuyên gia, tổ chức điều tra XHH …để phục vụ hoạt động giám sát.

+ Tăng cường tính công khai trong hoạt động giám sát PCTN của UB. Hoạt động giám sát sẽ có hiệu quả nếu hoạt động này tạo được lòng tin của người dân; dựa vào sự ủng hộ của công luận, báo chí để tăng thêm sức mạnh của mình.

+ Cần quan tâm tập trung giám sát 1 số vụ việc cụ thể, nổi cộm về phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, xác định rõ trách nhiệm của những người có liên quan, từ đó tạo sức ép và làm động lực để các cơ quan hữu quan phải thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của mình. Hiện nay, có nhiều thực trạng trong phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng là rất đáng lo ngại và gây bất bình trong nhân dân. Ví dụ, cơ quan thanh tra có thẩm quyền rất lớn trong thanh tra các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhưng trách nhiệm đối với các kết luận thanh tra thì chưa được quy định rõ. Thực tế, cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra rất nhiều cuộc, nhưng rất ít có sai phạm được chuyển sang cơ quan điều tra; có trường hợp doanh nghiệp được thanh tra nhiều lần, nhưng chỉ đến khi doanh nghiệp vỡ nợ, phá sản thì những sai phạm của doanh nghiệp mới được điều tra. Đây là vấn đề liên quan đến hoạt động phát hiện hành vi tham nhũng qua hoạt động thanh tra cần được UB tập trung giám sát. UB cũng cần tiến hành giám sát việc xử lý kéo dài đối với một số vụ án tham nhũng nổi cộm…

+ Đối với công tác PCTN, cần tăng cường hoạt động nghe báo cáo giải trình; các phiên chất vấn, thảo luận có truyền hình trực tiếp tại diễn đàn Quốc hội …Sau chất vấn, thảo luận tại Hội trường Quốc hội, trong trường hợp cần thiết Quốc hội  ra Nghị quyết về nội dung được chất vấn, thảo luận, xác định rõ trách nhiệm của những người có thẩm quyền có liên quan; UBTP giám sát, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của ĐBQH.

- Về điều kiện đảm bảo hoạt động giám sát

+ Cần tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức, quyết tâm chính trị của lãnh đạo các cấp, các nghành trong công tác PCTN

+ Thành viên UBTP ngoài các đồng chí kiêm nhiệm công tác tại các cơ quan tư pháp ở địa phương, cần có số lượng thích đáng các thành viên chuyên trách và kiêm nhiệm công tác ngoài nghành tư pháp, có kiến thức và am hiểu lĩnh vực hoạt động của UBTP.

+ Tăng cường đội ngũ cán bộ Vụ chuyên môn giúp việc; có cơ chế huy động chuyên gia tham mưu cho Uỷ ban.

+ Bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho Ủy ban và Bộ máy giúp việc.

 

 

Nguyễn Mạnh Cường – UVTT UBTP

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK