Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Luật hòa giải cơ sở
Cập nhật : 8:42 - 17/08/2012

Tiếp tục chương trình làm việc, sáng 16-8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về dự án Luật hòa giải cơ sở. Đây là lần đầu tiên, dự án Luật được thảo luận tại Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Báo cáo khái quát về dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, những năm qua, hoạt động hòa giải ở cơ sở đã phát huy vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống của nhân dân, tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, ngăn ngừa kịp thời nhiều hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, ổn định trật tự, an toàn xã hội, đồng thời giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết…

Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở được ban hành và đã được các cấp, ngành, người dân thực hiện tích cực.

Bên cạnh các ưu điểm, sau 13 năm thi hành, Pháp lệnh đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập về hệ thống văn bản quy phạm. Pháp luật về hòa giải ở cơ sở chưa thực sự đầy đủ, thống nhất và đồng bộ; Pháp lệnh chưa quy định đầy đủ, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, do đó chưa thu hút, khuyến khích mọi người tham gia công tác này; vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa đặt ngang tầm với vị trí, vai trò nòng cốt trong tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở....

Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác hòa giải cơ sở đối với đời sống xã hội, từ tình hình tổ chức và hoạt động hòa giải trong thời gian qua và thực trạng pháp luật hiện hành về lĩnh vực này cho thấy, việc sớm ban hành Luật hòa giải cơ sở, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh thống nhất, có hiệu quả hơn về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở là rất cần thiết.

Dự thảo Luật quy định về hòa giải cơ sở với tính chất nhân dân tự tổ chức hòa giải với nhau, nhà nước hỗ trợ. Hoạt động hòa giải tại Tòa án; hòa giải thương mại, trọng tài, hòa giải lao động và hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Dự thảo Luật gồm 5 chương, 30 điều.

Bàn về sự cần thiết ban hành Luật hòa giải cơ sở, qua thảo luận vẫn còn có ý kiến khác nhau. Một số ý kiến vẫn còn băn khoăn liệu đã thật sự cần thiết ban hành Luật hay chưa? Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng cần xem xét đầy đủ, xác đáng về sự cần thiết nâng Pháp lệnh lên thành Luật.

Đại biểu cho rằng trên cơ sở tổng kết 13 năm thi hành Pháp lệnh cần cân nhắc ban hành Luật mới hay chỉ cần sửa đổi, bổ sung những nội dung chưa phù hợp của Pháp lệnh thôi. Cũng quan điểm này, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho rằng hòa giải vốn là hoạt động mang tính chất mềm dẻo không nên “cứng hóa”, “luật hóa”. Hơn nữa, qua 13 năm thi thành, Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở đã đi vào cuộc sống, nên chưa cần thiết ban hành Luật- đại biểu nêu quan điểm.

Không cùng với quan điểm này, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện đánh giá rất cần thiết ban hành Luật hòa giải cơ sở. Đại biểu nêu thực tiễn, trên thế giới nhiều nước rất quan tâm tới lĩnh vực hòa giải, qua đó giải quyết được nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Đại biểu nhấn mạnh: có tổ chức hòa giải ở cơ sở không có nghĩa là bác bỏ những hình thức hòa giải khác.

Trên cơ sở dẫn chứng về những quy định của pháp luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đồng tình với việc cần ban hành Luật hòa giải cơ sở. Phó Chủ tịch đánh giá qua thực tế tổng kết cho thấy công tác hòa giải cơ sở có vai trò xã hội to lớn góp phần củng cố trật tự xã hội rất tốt. Tuy nhiên Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cũng cho rằng dự án Luật thể hiện nặng về vấn đề thủ tục, trình tự hành chính, đọc dự án Luật có cảm giác gò bó.

Theo Phó Chủ tịch hòa giải cơ sở là hoạt động mang tính tự nguyện nên những quy định trong dự án Luật nên mang tính chất tự nguyện, mềm dẻo, linh hoạt hơn. Báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cũng có quan điểm tán thành với sự cần thiết ban hành Luật hòa giải cơ sở nhằm tạo cơ sở pháp lý và điều kiện để tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở có hiệu quả hơn, tạo cơ chế để người dân thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ, góp phần ổn định trật tự xã hội, tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư...

Bàn về phạm vi điều chỉnh và phạm vi hòa giải, dự án Luật chỉ điều chỉnh hoạt động hòa giải ở cơ sở thông qua hoạt động của tổ hòa giải và hòa giải viên. Hoạt động hòa giải thông qua các hình thức thích hợp khác của nhân dân không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự án Luật.

Qua thực tiễn cho thấy nhiều tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ được hòa giải thông qua các hình thức thích hợp khác của nhân dân ở cơ sở như: hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội, người đứng đầu dòng họ, già làng, trưởng bản,… Do đó, dự án Luật cần quan tâm, bổ sung một số quy định, tạo cơ chế để có sự phối hợp hiệu quả giữa tổ hòa giải, hòa giải viên với các hình thức khác trên địa bàn dân cư.

Xung quanh phạm vi hòa giải, đa số ý kiến của Thường trực Ủy ban tán thành với Ban soạn thảo quy định phạm vi hòa giải là “các mâu thuẫn, vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ ở cơ sở”, được cụ thể hóa tại Điều 4 dự thảo Luật.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý còn băn khoăn trong cách thể hiện của dự án Luật, theo đại biểu cần phải thể hiện để thấy rõ như thế nào được gọi là “tranh chấp nhỏ”.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách Phùng Quốc Hiển nêu lên những vụ việc không phải là mẫu thuẫn, tranh chấp nhỏ nhưng vẫn rất cần đến công tác hòa giải và qua hòa giải đã giải quyết được vấn đề.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện đề nghị trong cách thể hiện của dự án Luật cần lưu ý trọng tâm của Dự án Luật là hòa giải những vụ việc nhỏ trong nhân dân nhưng bên cạnh đó cũng có những trường hợp khác nữa, vì vậy quy định của pháp luật phải bao quát được các trường hợp.

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đề nghị dự án luật cần quan tâm tới việc phát huy vai trò quan trọng của các tổ chức đoàn thể trong công tác hòa giải. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đề nghị cùng với sáu nguyên tắc trong hòa giải đã nêu tại dự án Luật, cần chú ý tới nguyên tắc phát huy truyền thống tương thân tương ái trong cộng đồng xã hội và dòng họ, không được trái với quy định của pháp luật...

Buổi chiều, Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp tục làm việc theo chương trình.

 Theo TTXVN

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK