Quốc hội Bulgaria với công tác bầu cử
Cập nhật : 10:39 - 27/11/2018


Chuyến công tác của Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Nguyễn Tuấn Anh, Phó Trưởng Ban Công tác đại biểu làm Trưởng đoàn đi nghiên cứu, trao đổi, học tập kinh nghiệm tại Cộng hòa Bulgaria (từ ngày 17 đến ngày 19/9/2018) chủ yếu tập trung vào các vấn đề pháp luật về bầu cử, về các cơ quan phụ trách bầu cử, về các điều kiện đảm bảo hỗ trợ hoạt động của nghị sĩ, về vị trí, vai trò của cấp chính quyền địa phương.

Tại các buổi làm việc với Quốc hội Bulgaria, Đoàn Ban Công tác đại biểu đã trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng, tổ chức bộ máy Quốc hội, chế độ chính sách cho nghị sỹ và công tác bầu cử...

a. Vài nét về Cộng hòa Bulgaria và Nghị viện Bulgaria
Cộng hòa Bulgaria là một quốc gia nằm tại khu vực đông nam châu Âu, có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời, vị trí của Bulgaria ở giao lộ quan trọng của hai châu lục khiến đây là nơi tranh giành quyền lực trong nhiều thế kỷ. Bulgaria là thành viên của NATO từ năm 2004 và thành viên Liên minh châu Âu từ năm 2007. Dân số Bulgaria là 7,7 triệu người với thủ đô là Sofia.

  Về thể chế nhà nước, Bulgaria theo chế độ Cộng hòa Nghị viện - Tổng thống, trong đó quyền lập pháp thuộc về Nghị viện do dân bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm. Thủ tướng do Tổng thống đề cử (sau khi được đảng liên minh có nhiều ghế nhất trong Quốc hội giới thiệu) và phải được Quốc hội thông qua. Tại cuộc bầu cử khóa 44 ngày 26/3/2017, có tổng số 240 Nghị sỹ, Chủ tịch Quốc hội là bà Tsveta Karayancheva (bầu ngày 17/11/2017), tỉ lệ nữ Nghị sỹ là 23.73% (57 người). Đảng Công dân vì Sự phát triển châu Âu của Bungari (GERB) được 96 ghế (32,64%) chiến thắng sít sao trước Đảng Xã hội Chủ nghĩa Bulgaria (BSP) được 79 ghế (27,12%).

b. Về chính quyền địa phương
Tại buổi làm việc với Ủy ban Chính sách khu vực, xây dựng và tự quản địa phương, Đoàn được biết, Chính quyền tự quản địa phương của Bulgaria được quy định trong Hiến pháp và Luật Chính quyền tự quản địa phương. Ở Bulgaria có 265 thành phố, người dân mỗi thành phố 4 năm 1 lần  tiến hành bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng thành phố và Thị trưởng của mình. 

Theo Hiến pháp Bulgaria thì Thị trưởng là người đứng đầu khu vực bầu cử ra mình và Thị trưởng là người đại diện cao nhất của chính quyền hành pháp tại địa phương do mình quản lý. Thị trưởng được bầu trực tiếp trong khi đó Hội đồng thành phố được bầu cử tương tự như Nghị viện. Trong kỳ bầu cử Hội đồng thành phố gồm có tất cả các đảng và các tổ chức, hiệp hội của địa phương liên minh với nhau tham gia tranh cử. Chủ tịch Hội đồng thành phố có thể được bầu trong 2 vòng, trong vòng đầu tiên, nếu ứng cử viên đạt 50% số phiếu cộng thêm 1 phiếu thì chiến thắng tuyệt đối (nhưng điều này rất hiếm khi xảy ra). Nếu không có ai đạt được 50% số phiếu cộng 1 phiếu thì sẽ tiến hành bầu cử vòng 2 giữa 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất. 

Hội đồng thành phố là cơ quan lập pháp tại địa phương, Hội đồng thành phố có quyền soạn thảo, đưa ra các quy định, quyết định quan trọng liên quan đến tất cả các hoạt động của thành phố của mình gồm: an ninh, chính trị, xã hội, kinh tế của địa phương, quan trọng nhất là vấn đề xây dựng hạ tầng cơ sở. Khi bầu cử các thành viên của Hội đồng thành phố cũng tương tự như bầu cử Nghị sỹ. Để trở thành thành viên HĐTP thì ứng cử viên phải đạt tối thiểu 7% tổng số lá phiếu cử tri của địa phương đó.

Nguồn ngân sách chính của chính quyền địa phương đến từ nguồn thu của địa phương như từ thuế của người dân… và ngoài ra là 1 phần ngần sách từ chính quyền trung ương. Mục đích chính nhằm tạo sự độc lập tối đa của chính quyền địa phương với chính quyền Trung ương. 

c. Kinh nghiệm bầu cử của Bulgaria và hệ thống cơ quan phụ trách bầu cử
- Từ năm 2013, Bulgaria thành lập Ủy ban Bầu cử Trung ương là cơ quan độc lập để tổ chức mọi loại hình bầu cử và trưng cầu dân ý, có nhiệm kỳ hoạt động 5 năm. Các hoạt động của Ủy ban không có cơ quan nào có quyền can thiệp và Ủy ban không có trách nhiệm báo cáo hoạt động với Nghị viện. Các thành viên của Ủy ban là do các lực lượng chính trị đề cử. Các Thành viên còn lại được bổ nhiệm bởi tổng thống theo đề nghị của Nghĩ sỹ, lực lượng chính trị có ghế trong Nghị viện.
- Tiêu chuẩn của thành viên Ủy ban là có bằng tốt nghiệp Thạc sỹ, số lượng thành viên trong Ủy ban phụ thuộc vào số ghế của các lực lượng chính trị trong Quốc hội, hiện nay Ủy ban gồm có 23 thành viên.
- Nghị viện Bulgaria là Nghị viện 1 viện và không có các khu vực tự trị là những nét tương đồng với Quốc hội Việt Nam.

Trong cuộc bấu cử các cử tri đều có quyền bỏ phiếu và lựa chọn Nghị sỹ và nhóm lực lượng chính trị.
Nghĩ sỹ đại diện cho tất cả nhân dân đất nước mà không phụ thuộc vào khu vực bầu cử của mình. Bulgaria được chia thành 31 khu vực bầu cử, con số này có thể thay đổi tùy vào từng cuộc bầu cử khác nhau và mỗi một Nghị sỹ có thể được bầu từ một trong những khu vực này. Việc phân chia khu vực bầu cử như thế này chỉ liên quan đến chiến dịch tranh cử của Nghị sỹ mà không liên quan đến việc Nghị sỹ sẽ đại diện cho khu vực đó. Nghị sỹ Bungari phụ trách tất cả các vấn đề liên quan đến đất nước chứ không chỉ quan tâm khu vực mình được bầu ra. Nghị sỹ được bầu trực tiếp từ người dân, chỉ Nghị sỹ có quyền rút lui khỏi Nghị viện và không cơ quan nào có quyền yêu cầu Nghị sỹ từ chức. Tương tự như ở một số nước khác, Nghị sỹ cũng có quyền ưu tiên như quyền miễn trừ truy tố nhằm đảm bảo sự độc lập của Nghị sỹ khi thảo luận các vấn đề trong Quốc hội. 

Quốc hội có nhiệm kỳ 4 năm nhưng trong một số trường hợp Chính phủ không được thành lập thì Quốc hội sẽ bị giải tán và sẽ tiến hành bầu cử Quốc hội trước thời hạn. Trong lịch sử 35 năm dân chủ của Bulgaria đã có khoảng 3 đến 4 kỳ bầu cử trước thời hạn.
Ứng cử viên Nghị sỹ là tất cả các công dân ngoại trư những người đang bị giam giữ hoặc bị xét xử. Tất cả các công dân trên 18 tuổi đều có quyền bầu cử và hiện nay Bulgaria đang có xu hướng muốn giảm tuổi của cử tri bầu cử.

Về cơ chế bầu cử: 
Các cử tri bầu cử cho danh sách của 1 đảng theo khu vực sau đó tập hợp danh sách và căn cứ vào kết quả của đảng nhận được trong kỳ bầu cử sẽ được chia số ghế trong Quốc hội tương ứng với kết quả nhận được. Ví dụ như 1 đảng nhận được 30% phiếu trong cuộc bầu cử Nghị viện sẽ có khoảng trên 30% số ghế trong Quốc hội, những Đảng không nhận được đủ 4% số phiếu sẽ không có ghế trong Quốc hội. Tuy nhiên, trong lịch sử Bulgaria có một số ngoại lệ như cuộc bầu cử Quốc hội tối cao thì Nghị sỹ tối cao được bầu trực tiếp theo 1 khu vực bầu cử sau đó sẽ lựa chọn ra 2 đại biểu vào ứng cử có số phiếu cao nhất và sẽ tiến hành bầu cử lần thứ 2 để chọn ra người chiến thắng. Hình thức bầu cử tương tự được áp dụng vào kỳ bầu cử năm 2009 tại đó có 1 khu vực bầu cử có 1 vị trí sẽ được bầu cử trực tiếp theo hình thức nói trên, bởi vì hình thức bầu cử nói trên là hình thức bầu cử đa số phiếu tương đối và hình thức này đang trở thành một chủ đề rất nóng tại nghị trường Bulgari đặc biệt trong khi có một cuộc trưng cầu dân ý xem người dân có ủng hộ đưa hình thức này vào Hiến pháp không.  Tuy nhiên hình thức bầu cử nói trên có một số bất cập nhất  định ví dụ trong cuộc bầu cử vào năm 1921 thì có một đảng đã dành được trên 50% số phiếu và họ kiểm soát toàn bộ Quốc hội. 

Hình thức hiện nay là mỗi một đảng sẽ đăng ký danh sách 240 người  do Quốc hội hiện nay có 240 nghị sỹ, mỗi cử tri sẽ bỏ phiếu cho từng đảng trong danh sách. Trong mỗi danh sách đó, mỗi đảng sẽ chỉ ra ứng cử viên là người sẽ được bầu trực tiếp nếu Ứng cử viên đó không được chỉ ra thì nghiễm nhiên được hiểu là số phiếu bầu trực tiếp sẽ dành cho người đứng đầu trong danh sách. Tuy nhiên trong các kỳ bầu cử gần đây hầu hết các đảng không chọn cử ra ứng cử viên để bầu cử trực tiếp vì vậy đa số những người đứng đầu trong danh sách các đảng sẽ được bầu cử trực tiếp và số còn lại sẽ tự quyết định số phiếu mà đảng đó được nhận. Hệ thống bầu cử trên gây ra khó khăn nhất định cho cử tri, vì khi bầu cử sẽ có một danh sách chung gồm tất cả ứng cử viên của các đảng và một danh sách khác gồm các ứng cử viên muốn được bầu cử trực tiếp, do đó sẽ gây nhầm lẫn giữa các danh sách/.. 

TTBD
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK