CÔNG DÂN KIỂM SOÁT HÀNH CHÍNH CÔNG Ở MỸ
Cập nhật : 14:01 - 28/08/2018

Hành chính công và kiểm soát hành chính công là một vấn đề cótầm quan trọng đặc biệt cả ở thế giới và Việt Nam. Với xu thế dân chủ, nhiềunước trên thế giới đã thiết lập các phương thức kiểm soát hành chính công từphía công dân, xã hội, báo chí, bảo đảm hành chính công hoạt động trong khuônkhổ pháp lý, chống lạm quyền, tham nhũng và xâm phạm lợi ích công dân. Ở ViệtNam, kiểm soát hành chính công từ phía xã hội chưa thực sự hiệu quả. Điều này,một mặt thể hiện hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, mặt khác, thể hiện sự lúngtúng trong việc xác định vai trò, phương thức, nội dung, đối tượng kiểm soáthành chính công. Bài viết này sẽ nghiên cứu pháp luật về hành chính công, việckiểm soát hành chính công ở Hoa Kỳ và những giá trị có thể tham khảo cho ViệtNam.

Tuy có những “biến thể” khác nhau, đặc thù chính trị ở Mỹ nóiriêng và nhiều nước phương Tây nói chung hiện nay đều dựa trên nền tảng là họcthuyết phân chia quyền lực nhà nước “tam quyền phân lập” – phân chia quyền lựcnhà nước thành ba nhánh quyền có khả năng “kiềm chế, đối trọng” lẫn nhau là lậppháp – hành pháp – tư pháp, trong đó hành pháp là trung tâm của quyền lực nhànước.

Ở Mỹ, Tổng thống là người đứng đầu nhánh hành pháp toàn Liênbang, do cử tri Mỹ bầu lên thông qua một cuộc bầu cử “có một không hai”. Ở cácbang, đứng đầu nhánh hành pháp là Thống đốc do cử tri bầu trực tiếp. Với cơ chếdân bầu trực tiếp người đứng đầu nhà nước (bang và liên bang), các đảng phái cóứng viên tranh cử và trực tiếp các ứng viên muốn đắc cử phải đưa ra những chiếnlược, kế hoạch hay chương trình hành động cụ thể để thu hút số phiếu của cửtri. Cũng từ đây, Tổng thống hay Thống đốc đắc cử phải có trách nhiệm với nhữnggì mình đã cam kết khi tranh cử, cử tri cũng căn cứ vào đó để để giám sát Tổngthống hay Thống đốc thực hiện.

Bên cạnh đó còn có hình thức tranh biện, đối thoại giữa các ứngcử viên Tổng thống hay Thống đốc trước công dân. Thực chất của hình thức nàycũng là sự phản biện để tạo điều kiện cho công dân, cử tri giám sát, đánh giácác quan điểm chính trị của người đại diện cho đảng tham gia tranh cử. Thậmchí, ngay trong hoạt động bầu cử Tổng thống Mỹ cũng được theo dõi bởi hàng loạtđơn vị giám sát liên bang, các nhóm bảo vệ quyền bầu cử, thậm chí là nhiềuchuyên gia quốc tế. Cơ chế này cho đến nay vẫn cho thấy tính hiệu quả của việcphát huy khả năng kiểm soát của công dân đối với hoạt động quản lý nhà nước.

Sự tham gia rộng rãi của công dân Mỹ trong kiểm soát hoạt độngquản lý hành chính nhà nước dẫn đến sự ra đời của nhiều tổ chức phi chính phủ,tổ chức tư nhân, hiệp hội nghề nghiệp, các hội nhóm,... với các hoạt động nhằmđánh giá hay phản biện về hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước, bên cạnhcác tổ chức do chính các Chính phủ bang hoặc liên bang thành lập. Các tổ chứcnày hoạt động một cách độc lập và đưa ra những phương pháp đánh giá có cơ sởkhoa học như điều tra xã hội học, nghiên cứu chính sách – pháp lý, so sánh vớichính sách của các quốc gia khác hoặc chính sách của các đời Tổng thống hayThống đốc trước đây. Quy mô, phạm vi hoạt động của các tổ chức này cũng khácnhau tùy thuộc vào lĩnh vực mà các tổ chức này tham gia nghiên cứu, phản biệnnhư chính sách kinh tế, giáo dục, y tế hay môi trường,… Các khuyến nghị của cáctổ chức này đưa ra sau khi nghiên cứu một vấn đề nào đó thường được đưa ra thảoluận công khai, rộng rãi hoặc lên bàn nghị sự của Nghị viện, buộc các cơ quanhành pháp phải lưu tâm và xử lý.

Các phương thức kiểm soát hiệu quả của công dân đối với quản lýhành chính nhà nước luôn là một câu hỏi lớn đối với thể chế hành chính của cácquốc gia. Ở Mỹ, quyền tự do báo chí, tự do xuất bản là một trong những quyềnquan trọng của công dân đảm bảo cho sự giám sát có hiệu quả của công dân đốivới hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Quyền tự do báo chí, tự do xuất bảnở Mỹ là một phần của quyền tự do ngôn luận được bảo vệ bởi Tu chính án số 1(First Amendment) của Tuyên ngôn Nhân quyền (the Bill of Rights) năm 1791:“Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăncấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hộihọp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.”

Ở Mỹ, truyền thông công cộng, báo chí phải đảm bảo nguyên tắc“độc lập với nhánh hành pháp; thực sự có tính đa nguyên; có thể dễ dàng tiếpcận ở mọi lúc mọi nơi; với kinh phí phù hợp theo những nhiệm vụ được pháp luậtquy định; và chúng phải có sự tham gia của cộng đồng và cơ chế trách nhiệm”.Chúng ta rất dễ dàng bắt gặp sự phản ứng của truyền thông, báo chí Mỹ một cáchđộc lập, khách quan, thường ít bị chi phối bởi chính trị trong các cuộc bầu cửTổng thống Mỹ. Các đài truyền hình, các tờ báo có thể bình luận, thậm chí đánhgiá gay gắt về các ứng viên tranh cử, hay giám sát trực tiếp các điểm bỏ phiếucủa cử tri. Đặc biệt, báo chí Mỹ luôn có hoạt động điều tra khảo sát, hay thămdò ý kiến cử tri Mỹ trong các cuộc bầu cử, từ đó đưa ra các kết quả phân tích.Các kết quả phân tích này thường đóng vai trò quan trọng quyết định đến hoạtđộng tranh cử của các ứng viên, đến tâm lý cử tri Mỹ khi đi bầu Tổng thống.Thông thường, các ứng viên có kết quả thăm dò khả quan, chiếm tỷ lệ cao hơn ứngviên còn lại thường giành phần thắng. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp cáckết quả thăm dò đi ngược với kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ. Nghị viện Mỹ cũngthường dựa vào các phóng sự điều tra và các tin bài tổng hợp trên truyền thông,báo chí để buộc Chính phủ Mỹ có trách nhiệm giải trình.

Cùng với báo chí, Nghị viện, người dân Mỹ có vai trò chủ chốttrong kiểm soát hành chính công. Nghị viện Mỹ đã thông qua luật cho phép các cơquan và các chương trình tự đưa ra các quy định hướng dẫn. Các quy định nàyđược đăng trên website để lấy ý kiến (Bộ pháp điển các quy định liên bang).Người dân có thể đọc hoặc phản hồi về các quy định đang được xem xét, đang lấyý kiến công chúng hoặc đã được ban hành trên Federal Register (một dạng côngbáo liên bang xuất bản mỗi ngày làm việc - www.regulations.gov). Bên cạnh đó,các thông tin về chương trình, báo cáo thường niên, luật, mô tả chương trình,các kế hoạch chiến lược phải được đăng trên website của cơ quan đó để người dânđọc và phản hồi. Mỹ là nước có chính sách nghiêm nhất về dữ liệu mở, cho phépngười dân được tiếp cận các thông tin chính phủ nhiều hơn bất kỳ quốc gianào. 

TTBD.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK