Những nguyên tắc trong ban hành pháp luật về tự do hội họp
Cập nhật : 10:46 - 14/08/2018

Tựdo hội họp là một quyềncon người cơ bản được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế và hiến pháp của hầuhết quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo các cơ quan nhân quyềnLiên Hợp Quốc, quyền tự do hội họp có ý nghĩa rất quan trọng với việc hưởng thụcác quyền con người khác của mọi cá nhân. Không chỉ vậy, tự do hội họp còn đượcxem là một yếu tố nền tảng, một tiêu chí cơ bản để đánh giá một nền dân chủ.

Thực tế trên thế giới cho thấy, tự dohội họp không chỉ giúp phát triển năng lực của các cá nhân công dân mà còn giúptạo lập mối quan hệ gắn bó giữa công dân và nhà nước, là phương tiện quan trọnggiúp thực thi nhiều quyền dân sự, chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội,văn hóa khác. Cùng với quyền tự do lập hội, tự do hội họp là “những thành tốthiết yếu của một xã hội dân chủ” vì nó cho phép các thành viên “bày tỏ quan điểmchính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt độngkinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềmtin khác, hình thành và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọnnhững người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm” (Lờinói đầu của Nghị quyết 15/21 của Hội đồng Nhân quyền).

Điều 20 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền(UDHR) xác định: Mọi người có quyền tự dohội họp hòa bình và lập hội. Quyền tự do hội họp được bảo đảm tại Điều 21và quyền lập hội được bảo đảm tại Điều 22. Theohướng dẫn của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE- một tổ chức an ninh liên chính phủ lớn nhấtthế giới, tự do hội họp hòa bình làmột quyền con người cơ bản có thể được thụ hưởng và thực hành bởi các cá nhânvà các nhóm, các hội chưa đăng ký, các pháp nhân và các doanh nghiệp. Các cuộchội họp có thể phục vụ cho nhiều mục đích, bao gồm việc thể hiện các quan điểmkhác nhau, các quan điểm không phổ biến hoặc thiểu số. Quyền này có thể là sợidây quan trọng trong việc duy trì và phát triển văn hóa, chẳng hạn như trong việcbảo tồn bản sắc của các dân tộc thiểu số. Việc bảo vệ quyền tự do hội họp mộtcách ôn hòa có ý nghĩa rất quan trọng để tạo ra một xã hội khoan dung và đanguyên, trong đó các nhóm với những niềm tin khác nhau, hoặc các thực hành,chính sách khác nhau có thể tồn tại cùng nhau một cách hòa bình.

Tự do hội họp hòa bình cần được bảo vệtrong Hiến pháp của các quốc gia. Đây là điều kiện tối thiểu để đảm bảo cả quyềnvà nghĩa vụ của các chủ thể trong vấn đề này. Tuy nhiên, cũng theo các cơ quannhân quyền Liên Hợp Quốc, tự do hội họp không phải là một quyền tuyệt đối. Việcthực hiện quyền này có thể phải chịu những hạn chế do luật định khi cần thiết đểbảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn, đạo đức của cộng đồng vàcác quyền, tự do chính đáng của những cá nhân khác. Nghị quyết 15/21 tái xác địnhnội dung của điều 21 và 22, khẳng định rõ thêm rằng chúng “có thể phải chịu nhữnggiới hạn được luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ vì lợi íchcủa an ninh quốc gia hoặc an toàn, trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe và đạo đứccông cộng, hoặc bảo vệ các quyền và tự do của người khác”. Cũng bởi vì Hiếnpháp không thể đưa ra các quy định chi tiết hoặc các thủ tục cụ thể, vì thế cácquy định của hiến pháp nói chung có thể bị lạm dụng, áp dụng không đúng trongthực tiễn để hạn chế quyền tự do của người dân và bản thân nó có thể tạo ra mộtsự tự do không chính đáng cho các nhà chức trách.

Do đó, nhiều quốc gia đã ban hành cácvăn bản pháp luật quy định cụ thể về tự do hội họp bên cạnh quy định trong Hiếnpháp. Các văn bản pháp luật như vậy không  được phép hạn chế khả năng hưởng quyền hiến địnhvề hội họp hòa bình, mà thay vào đó cần tạo điều kiện và đảm bảo sự bảo vệ choquyền này. Về vấn đề này, quan trọng là luật pháp cần tránh việc tạo ra một cơchế quan liêu quá mức theo kiểu tìm cách quy định tất cả các vấn đề, dẫn đến cóthể xâm phạm các quyền cơ bản. Đây là một nguy cơ rất dễ xảy ra ở nhiều nướctrên thế giới. Tuy nhiên, hoạt động lập pháp cũng cần đảm bảo rằng việc thực hiệnquyền tư do hội họp không vượt quá giới hạn. Tức là, chỉ có các cuộc hội họphòa bình mới được bảo vệ bởi quyền tự do hội họp. Một cuộc hội họp được xem làhòa bình nếu người tổ chức nó có ý định hòa bình. Một cuộc họp được cho làkhông hòa bình khi tiềm ẩn một mối đe dọa rõ ràng về việc xảy ra bạo lực.

Do đó, để pháp luật thực sự trở thànhcông cụ điều chỉnh tự do hội họp thì cần bảo đảm được những nguyên tắc sau:

  1. Những giả định có lợi cho việc tự tổ chức hội họp

Với tính chất là một quyền con ngườicơ bản, tự do hội họp cần được bảo đảm thụ hưởng trong phạm vi tối đa có thể.Nghĩa là bất cứ điều gì rõ ràng không bị cấm bởi pháp luật thì đều mặc nhiên đượclàm. Nguyên tắc giả định có lợi cần được quy định rõ ràng trong luật. Ở nhiềuquốc gia, điều này được bảo đảm bằng hiến pháp, nhưng cũng có thể chỉ cần đưavào thành một nguyên tắc trong đạo luật chuyên ngành điều chỉnh về tự do hội họp.

Chẳng hạn như vấn đề này được quy địnhtại Điều 36 Hiến pháp Romania: “Những cuộc hội họp, diễu hành, biểu tình hoặc bấtkỳ cuộc hội họp nào khác ở nơi công cộng là tư do và có thể được tổ chức, diễnra một cách hòa bình và không có bất cứ hình thức vũ trang nào”. Còn vớiArmenia thì được quy định tại Điều 1 Luật về thực hiện các cuộc họp, hiệp hội,tuần hành và biểu tình: “Mục tiêu của luật này là để tạo điều kiện cần thiếtcho công dân nước Cộng hòa Armenia, công dân nước ngoài, người không quốc tịchvà pháp nhân thực hiện các quyền về diễu hành, hội họp, biểu tình một cách hòabình, không có vũ trang được quy định trong Hiến pháp và các Điều ước quốc tế.

  1. Nghĩa vụ bảo vệ hòa bình của nhà nước

Theo các chuyên gia,việc bảo đảm quyền hội họp hòa bình đòi hỏi các quốc gia có cả nghĩa vụ chủ động(positive obligation) và nghĩa vụ thụ động (negative obligation).

Về nghĩa vụ chủ động,các quốc gia phải tích cực bảo vệ các cuộc hội họp hòa bình. Nghĩa vụ này bao gồmbảo vệ những người tham gia vào hội họp hòa bình khỏi các cá nhân, nhóm, bao gồmnhững kẻ kích động gây rối và những người phản – biểu tình muốn phá hoại, giảitán cuộc tụ họp. Các cá nhân đó có thể gồm cả những viên chức của nhà nước hoặcthực hiện theo chỉ đạo của họ. Các quyền dân sự cơ bản, như quyền sống, quyềnkhông bị tra tấn, đối xử tàn ác và vô nhân đạo, phải được tôn trọng tuyệt đối bởicác lực lượng giám sát, bảo vệ các hoạt động biểu tình, tuần hành. Lực lượng cảnhsát nên mặc cảnh phục với bảng hiệu xác định danh tính cụ thể, tránh việc mặcthường phục gây khó khăn cho việc nhận biết.

Nghĩa vụ bảo vệ củaNhà nước cũng thể hiện ở việc đào tạo các nhân viên công vụ khả năng quản lýcác cuộc hội họp công cộng và xây dựng nền văn hóa thực thi pháp luật ưu tiên bảođảm các quyền con người. Những người vi phạm, kể cả các nhân viên thực thi phápluật, nếu vi phạm quyền hội họp hòa bình phải chịu trách nhiệm pháp lý, bị xửlý bởi cơ quan giám sát và bởi tòa án. Cũng theo OSCE, trách nhiệm của nhà nướcbao gồm cả việc chi trả các chi phí bảo đảm an ninh và an toàn (bao gồm việc quảnlý giao thông và đám đông), chi phí cho dọn dẹp vệ sinh sau cuộc hội họp...Nhữngngười tổ chức các cuộc hội họp không mang tính chất thương mại không phải mua bảohiểm trách nhiệm cho sự kiện.

Về nghĩa vụ thụ động,nhà nước không được can thiệp vô lý vào quyền hội họp hòa bình. Các giới hạn ápdụng phải là cần thiết và có sự tương xứng với mục đích. Phần dưới đây sẽ phântích kỹ hơn khía cạnh thụ động này.

  1. Tính hợp pháp

Bất cứ sự giới hạnnào với quyền tự do hội họp cũng phải được quy định chính thức trong luật. Luậtphải rõ ràng để một cá nhân có thể xác định được hành vi của họ là hợp pháp haykhông hợp pháp và thấy được hậu quả có thể phải gánh chịu nếu vi phạm. Do đó,các định nghĩa trong luật không nên quá phức tạp hay quá rộng để bảo đảm sự dễhiểu. Việc áp đặt một hạn chế, các biện pháp trừng phạt sau cuộc hội họp là điềukhông được phép.

  1. Tính tương xứng

Bất kỳ sự giới hạnnào đối với tự do hội họp cũng phải bảo đảm được tính tương xứng. Những biệnpháp can thiệp phải phù hợp, ít nhất là phương thức can thiệp phải đạt được cácmục tiêu mà pháp luật đề ra. Các có quan chức năng cần hiểu là họ có thể sử dụngnhiều biện pháp hạn chế chứ không đơn thuần chỉ là cấm. Bất cứ sự hạn chế nàocũng cần gắn kết chặt chẽ với những mối quan ngại cụ thể và cần được thu hẹp đểbảo đảm những mục tiêu cụ thể. Nguyên tắc tương xứng yêu cầu chính quyền khôngthường xuyên áp đặt các hạn chế mà có thể dẫn đến thay đổi bản chất của sự kiện,chẳng hạn như định tuyến một cuộc tuần hành ra xa khu trung tâm thành phố.

  1. Quản trị tốt, ban hành quyết định minh bạch và tiếp cận công lý

Công chúng cần đượcbiết cơ quan nào chịu trách nhiệm đưa ra quyết định về quy chế tự do hội họp.Điều này phải được nêu rõ trong luật. Các cơ quan quản lý nhà nước phải bảo đảmcông chúng có khả năng tiếp cận thông tin đáng tin cậy về các cuộc họp ở nơi côngcộng. Và sự minh bạch thủ tục là cần thiết để bảo đảm rằng quyền tự do hội họphòa bình không bị hạn chế một cách tùy tiện. Luật liên quan đến tự do hội họp cầnxác định được những thủ tục pháp lý rõ ràng và thiết lập một phương thức tươngtác giữa các nhà tổ chức sự kiện và các cơ quan quản lý.

  1. Không phân biệt đối xử

Mọi người đều bình đẳngtrong việc thụ hưởng tự do hội họp. Các cơ quan quản lý không được áp đặt nhữngđiều kiện tiên quyết nặng nề, phiền hà đối với việc hội họp. Những nỗ lực ngăncản hoặc loại trừ vĩnh viễn những thành viên của một nhóm chủng tộc nào đó đượctổ chức hội họp được xem là sự phân biệt đối xử và cấu thành vi phạm công ước củaLiên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.

 

Từ cách tiếp cận nhưtrên, tự do hội họp đòi hỏi không chỉ các nhà nước, với tư cách là chủ thể chịutrách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền, mà cả với các cá nhân, với tư cách là chủthể của quyền, đều phải có nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quyền này.

 

Tham khảo:

  1. Viện chính sách công và pháp luật, Đào Trí Úc – Vũ Công Giao – Lê Thúy Hương đồng chủ biên, “Tự do hội họp trong luật nhân quyền quốc tế”, NXB Hồng Đức, 2017
  2. “Quyền tự do hội họp”

http://nhanquyen.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=48&mcid=7

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK