MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGHỊ VIỆN SINGAPORE
Cập nhật : 9:38 - 23/11/2017

 

1. Tổng quan về Singapore

Singapore là một quốc gia quần đảo, với diện tích 716km2  gồm một đảo thấp lớp và 56 đảo nhỏ khác (bằng khoảng 1/5 diện tích của thủ đô Hà Nội, 1/3 diện tích của TP. Hồ Chí Minh, trong đó diện tích đất trồng trọt để làm nông nghiệp chỉ chiếm chưa tới 1%). Đất nước này nằm ở phía Nam bán đảo Malaysia và là cầu nối giữa châu Á và châu Úc. Dân số Singapore trên 5,8 triệu người, cơ cấu dân số trẻ (từ 15 tuổi cho đến 64 tuổi) là chủ yếu, chiếm 77% tổng dân số[1]. GDP năm 2016 đạt 292,74 tỷ USD[2]. Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 86.854 USD/người.

Singapore là thuộc địa của Anh từ năm 1819, sau đó tham gia vào Liên bang Malaysia năm 1963 và tách ra thành một quốc gia độc lập vào ngày 08 tháng 09 năm 1965. Là một đất nước đa sắc tộc, Singapore có tỷ lệ người nhập cư tương đối lớn so với các nước thành viên ASEAN, ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Trung, tiếng Malai.

Là quốc gia không có tài nguyên thiên nhiên, Singapore phát triển chủ yếu dựa vào xuất khẩu và dịch vụ du lịch và là trung tâm trung chuyển hải cảng lớn trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, Singapore phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và nước ngọt để đáp ứng nhu cầu trong nước. Singapore đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp phát triển hàng đầu châu Á và trên thế giới như: cảng biển, hệ thống giao thông, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển...

Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển kinh tế dịch vụ và xuất khẩu, Singapore coi trọng chính sách phát triển giáo dục, thực hiện chính sách phổ cập giáo dục từ bậc tiểu học tới trung học (từ 6 đến 16 tuổi). Khuyến khích việc du học tại các nước phát triển, đặc biệt là các nước thuộc khối thịnh vượng chung. Ngoài ra, hiện nay Singapore là một trong những nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức với mục tiêu đến năm 2018 sẽ trở thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và khu vực châu Á.

1.             Nghị viện Singapore

Singapore là nước có chính thể cộng hòa Nghị viện. Là một nước thuộc khối thuộc địa Anh, nên hệ thống pháp luật của Singapore chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Anh. Nghị viện của Singapore được xây dựng theo mô hình dân chủ Nghị viện của hệ thống Westminster, Anh, theo đó, các nghị sĩ được bầu thông qua hình thức bầu cử trực tiếp, phổ thông đầu phiếu, tuy nhiên có một số ghế mang tính chất cơ cấu thông qua hình thức chỉ định[3]; nhiệm kỳ của nghị sĩ là 5 năm (hiện Nghị viện Singapore có 101 Nghị sĩ) tính từ phiên họp đầu tiên sau cuộc Bầu cử toàn quốc, nghị sĩ của Singapore không bị giới hạn về số lần bầu cử. Chủ tịch Nghị viện được bầu sau khi các nghị sĩ mới tuyên thệ vai trò nghị sĩ của mình.  Mặc dù mô phỏng theo hình thức Nghị viện của Anh quốc nhưng Nghị viện của Singapore chỉ có một viện (unicameral parliament). Theo Hiến pháp Singapore, Nghị viện thành lập 7 ủy ban thường trực có nhiệm kỳ tương ứng với nhiệm kỳ của Nghị viện, bao gồm các Ủy ban:

Ủy ban Lựa chọn ủy viên (Committee of Selection), Ủy ban Tài khoản công (Public Accounts Committee), Ủy ban Dân nguyện (Public Petitions Committee), Ủy ban hoạt động của Nghị sĩ (House Committee), Ủy ban Kiểm soát đặc quyền của Nghị viện (Committee of Privileges), Ủy ban Quy tắc (Standing Orders Committee), Ủy ban dự toán ngân sách (Estimate Committee).

Bên cạnh các Ủy ban thường trực, trong trường hợp có kiến nghị của nghị sĩ để thẩm tra dự án luật hoặc xem xét một vấn đề cụ thể nào đấy Nghị viện thành lập các Ủy ban hoạt động lâm thời hay còn gọi là Ủy ban đặc trách. Các ủy ban này hoạt động tập thể, có quyền triệu tập người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vấn đề đang xem xét, ngoài ra các Ủy ban lâm thời này còn có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu, hồ sơ phục vụ cho hoạt động của mình.

Về kỳ họp của Nghị viện, việc xác định thời gian họp của Nghị viện do toàn thể Nghị viện biểu quyết quyết định khi kết thúc kỳ họp trước hoặc do Chủ tịch Nghị viện triệu tập họp mỗi tháng 1 lần với thời gian từ 1 ngày đến 1 tuần (trừ tháng 6 và tháng 12) tùy theo số lượng dự án luật được trình. Chương trình và thời gian họp được gửi tới trước cho Nghị sĩ nghiên cứu. Nghị sĩ thông thường gửi các câu hỏi chất vấn các Bộ trưởng, các góp ý dự thảo luật và nội dung cơ bản về các vấn đề họ muốn thảo luận ở phiên họp[4].

Việc hỏi- đáp, thảo luận rất được chú trọng tại các phiên họp toàn thể của Nghị viện, tất cả các phiên họp Nghị viện đều dành thời lượng khoảng 1,5 giờ đầu phiên họp cho việc hỏi đáp này (question time). Các câu hỏi này phải được gửi đến trước phiên họp và được đưa vào Chương trình làm việc của Nghị viện. Cũng tương tự như ở Việt Nam, quyền chất vấn của Nghị sĩ là một trong những quyền quan trọng, thể hiện việc giám sát tối cao của Nghị viện đối với hoạt động của Chính phủ. Nghị sĩ Singapore chất vấn thành viên Chính phủ thông qua hình thức bằng văn bản hoặc chất vấn trực tiếp tại phiên họp Nghị viện. Với nguyên tắc tôn chỉ là người đại diện của nhân dân, và phấn đấu vì một mục tiêu chung, việc chất vấn thành viên Nội các không chỉ do Nghị sĩ đảng đối lập thực hiện mà ngay cả thành viên của Đảng cầm quyền cũng thường xuyên thực hiện quyền này.

2.             Quy trình lập pháp

Quyền lập pháp của Nghị viện được quy định trong Hiến pháp Singapore[5].  Theo đó, một dự thảo luật được xem xét thảo luận qua ba phiên họp toàn thể của Nghị viện. Theo quy định của Hiến pháp Singapore thì sáng quyền lập pháp thuộc về các Nghị sĩ và Chính phủ. Tuy nhiên trên thực tế, việc trình dự án luật chủ yếu do Chính phủ thực hiện.

Việc xem xét, thảo luận, thông qua dự án luật được thực hiện tại các phiên họp toàn thể của Nghị viện. Tại lần đọc đầu tiên tại phiên họp, chỉ đọc tên của dự án luật, nội dung văn bản được gửi tới các Nghị sĩ và in chính thức trên Công báo. Trong thời gian ít nhất là 7 ngày trừ trường hợp đối với các dự án luật mang tính khẩn cấp, dự luật được trình lần thứ 2 tại Nghị viện, tại đây, các Nghị sĩ sẽ thảo luận các vấn đề mang tính nguyên tắc của Nghị viện, sau đó dự luật được chuyển sang thảo luận tại các Ủy ban của Nghị viện hoặc một Ủy ban đặc trách bao gồm một số nghị sĩ được lựa chọn trong trường hợp có kiến nghị cần xem xét kĩ đối với một số điều khoản. Đối với trường hợp này, Ủy ban có quyền lấy ý kiến công chúng về dự thảo luật, yêu cầu các chuyên gia cung cấp thêm thông tin về các vấn đề cần làm rõ đối với dự thảo luật…. Sau đó, Ủy ban này có quyền đưa ra các đề xuất, kiến nghị đối với dự thảo luật trên cơ sở đã tiến hành xem xét, điều tra, lấy ý kiến. Các đề xuất này được lập thành văn bản và gửi tới Ủy ban toàn thể của Nghị viện trước khi phiên thảo luận toàn thể lần ba của Nghị viện được tiến hành. Đối với phiên thảo luận lần ba, các nghị sĩ tập trung vào thảo luận từng điều khoản cụ thể của dự án luật. Sau đó, dự thảo luật được đưa ra biểu quyết. Một quy định quan trọng nữa trong quy trình lập pháp của Singapore nhằm bảo đảm dân chủ xã hội là tất cả các dự luật được Nghị viện thông qua trừ những dự luật liên quan đến an ninh quốc phòng, ngân sách, an toàn trật tự xã hội… thì đều phải được chuyển đến Hội đồng cố vấn cho Tổng thống về quyền của các nhóm thiểu số để đảm bảo trong dự luật không có điều khoản nào vi phạm chính sách dân tộc, phân biệt đối xử với các cộng đồng dân tộc, tôn giáo khác nhau. Sau khi đã được kiểm tra chặt chẽ, thỏa mãn yêu cầu đưa ra, dự án luật được trình lên Tổng thống kí phê chuẩn và chính thức trở thành luật.

3.             Các chế độ đãi ngộ đối với Nghị sĩ

Singapore là một nước có chính sách đãi ngộ đối với công chức rất cao và có chính sách tiền lương rõ ràng. Đối với Nghị sĩ, thù lao và các lợi ích bảo đảm cho hoạt động của nghị sĩ bao gồm phụ cấp hoạt động, các quyền lợi về y tế và các quyền lợi khác. Nghị sĩ được hưởng các quyền lợi này phải là Nghị sĩ được bầu thông qua cuộc bầu cử toàn quốc, các Nghị sĩ được chỉ định và là đại diện của các nhóm đảng hoặc dân tộc thiểu số không được hưởng các quyền lợi này. Lương của các quan chức cao cấp của Singapore cao tương đương với mức lương của các quan chức tại các quốc gia có tiềm năng kinh tế, tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, đến năm 2012, Singapore đã điều chỉnh mức lương, phụ cấp của các công chức trong khu vực hành chính công, theo đó, lương Bộ trưởng giảm 37% còn 1,1 triệu SGD/năm, Chủ tịch Quốc hội giảm 53% từ 1,17 triệu SGD xuống còn 550 SGD/năm…. nhưng phụ cấp cho hoạt động của Nghị sĩ không giảm. Pháp luật Singapore quy định hoạt động của Nghị sĩ là hoạt động bán thời gian, do đó phụ cấp được chi trả cho nghị sĩ khi họ bỏ thời gian thực hiện chức năng và vai trò nghị sĩ của mình. Theo đó, Nghị sĩ có quyền có công việc làm bên ngoài và có thu nhập từ công việc này, tuy nhiên công việc của Nghị sĩ ở bên ngoài phải độc lập với vai trò Nghị sĩ của mình tại Nghị viện.

Hoạt động được hưởng phụ cấp của nghị sĩ là làm luật, tranh luận về các dự án luật, phân tích ưu điểm và nhược điểm của dự án luật cũng như xem xet kĩ càng từng điều của dự án luật trước khi dự luật trở thành luật. Ngoài ra, phụ cấp này còn chi trả cho hoạt động giám sát của Nghị sĩ đối với Nội các của chính phủ… Việc xác định khoản phụ cấp của Nghị sĩ do Bộ phận Dịch vụ công thuộc Văn phòng Chính phủ thực hiện[6] trên cơ sở đề xuất của Ban thư kí Nghị viện. Từ năm 2012, sau khi thực hiện chế độ lương và phụ cấp mới, hiện nay phụ cấp của Chủ tịch Quốc hội Singapore là 550,000 SG$/năm, Phó Chủ tịch là 82.500SG$/năm, Nghị sĩ là 192.500 SG$/năm.

Ngoài ra, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Nghị viện còn được hưởng thêm phụ cấp của Nghị sĩ nếu họ là Nghị sĩ được bầu thông qua cuộc bầu cử toàn quốc[7]. Bên cạnh đó, trường hợp một Nghị sĩ cũng là thành viên Chính phủ thì được hưởng cả phụ cấp của Nghị sĩ và lương của thành viên Chính phủ (thành viên Chính phủ ở đây gồm Thủ tướng, hai Phó Thủ tướng và các Bộ trưởng).

Bên cạnh đó, Nghị sĩ còn được hưởng phụ cấp tháng lương thứ 13, và khoản phụ cấp nếu kinh tế tăng trưởng tối đa là 1,5 tháng lương một năm. Thang bảng lương (phụ cấp) của Nghị sĩ. Song song với việc được hưởng phụ cấp, thành viên Nghị viện còn được hưởng những quyền lợi về y tế nhất định, theo đó, Nghị sĩ còn được hưởng khoản trợ cấp lên tới 350SG$/năm hoặc 70 SG$/tháng cho việc điều trị ngoại trú và có thể được ghi vào thẻ tiết kiệm bảo hiểm y tế và được sử dụng để thanh toán bảo hiểm y tế.

Về phụ cấp hưu trí của Nghị sĩ:

Cũng như những công dân khác, các Nghị sĩ bắt buộc tham gia đóng góp vào Quỹ dự phòng Trung ương, theo đó, các Nghị sĩ phải đóng góp một khoản theo tỷ lệ từ 5% đến 20% tiền phụ cấp và Chính phủ đóng cho mỗi Nghị sĩ là từ 3,5% đến 16% phụ cấp của Nghị sĩ, tỉ lệ đóng góp phụ thuộc vào tuổi đời của Nghị sĩ, Nghị sĩ càng trẻ thì tỷ lệ đóng góp càng cao. Nghị sĩ được hưởng chế độ lương hưu dành cho nghị sĩ khi ngoài 50 tuổi và có ít nhất 9 năm hoạt động ở Nghị viện. Mức lương hưu của Nghị sĩ bằng 2/3 lương Nghị sĩ khi đương nhiệm.

Bên cạnh việc đảm bảo phụ cấp, y tế hỗ trợ hoạt động của Nghị sĩ, hoạt động chuyên môn của Nghị sĩ cũng được hỗ trợ một cách tối đa. Mỗi một Nghị sĩ được quyền tự tuyển chọn một đội ngũ thư kí hỗ trợ lập pháp nhằm giúp cho nghị sĩ trong việc nghiên cứu và tham gia ý kiến về các dự án luật, với mực kinh phí hỗ trợ lên đến 1.300 SG$/ tháng. Ngoài ra, Thư viện Quốc hội Singapore cũng là nơi cung cấp rất nhiều tài liệu cho Nghị sĩ, thư kí hỗ trợ lập pháp của Nghị sĩ trong việc tìm thông tin phục vụ cho việc tham gia góp ý, thảo luận về dự án luật.

Ngoài đội ngũ thư kí hỗ trợ tư pháp mỗi Nghị sĩ còn được cấp một khoản kinh phí khoảng 500 SG$/tháng để thuê thư kí hỗ trợ các công việc hành chính.

Mặt khác, cổng thông tin điện tử của Nghị viện Singapore là kênh thông tin kết nối hai chiều giữa cử tri và Nghị sĩ, thông qua đó, hoạt động của Nghị sĩ nói riêng và của Nghị viện nói chung được quảng bá rộng rãi, công khai, minh bạch và ngược lại cử tri cũng có thể thông tin ngược lại tới Nghị sĩ những vẫn đề mà mình quan tâm, hỏi đáp, phản ánh cần sự phản hồi từ phía Nghị sĩ.

Là một nước nhỏ trong khu vực Đông Nam Á, Singapore ngày càng phát triển ổn định về kinh tế và chính trị. Tuy chịu ảnh hưởng từ hệ thống hành chính và pháp luật của Anh nhưng Singapore vẫn giữ được những bản sắc và dấu ấn riêng. Cơ quan lập pháp của Singapore là một minh chứng cho việc đó. Hoạt động của Nghị viện Singapore được thực hiện trên nguyên tắc công khai, minh bạch, mọi chính sách pháp luật đều hướng tới lợi ích chung của cộng đồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân đặc biệt là công dân ở nhóm thiểu số, đảm bảo sự công bằng trong tất cả các cộng đồng dân cư. Cùng với việc xây dựng một nền hành chính thanh liêm, xóa bỏ tham nhũng, các quyền lợi của công chức làm việc trong các cơ quan công quyền được đảm bảo đầy đủ, bên cạnh đó, mức lương, trợ cấp, bảo hiểm…. Chế độ chính sách dành cho khu vực lập pháp cũng tương đối cao, đảm bảo cho hoạt động của Nghị sĩ được độc lập, khách quan, lấy nguyên tắc pháp luật thượng tôn là kim chỉ nam và phục vụ mục tiêu chung là phát triển cộng đồng, xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ và văn minh.

 

Trần Văn Túy, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên UBTVQH,

Trưởng Ban Công tác đại biểu, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương



[1]Nguồn: United Nations Department of Economic and Social Affairs: Population Division .

[2]Nguồn: World Bank (trading economic.com)

[3]Hiến pháp Singapore quy định số dành tối đa 12 ghế trong Nghị viện không thông qua cuộc tổng tuyển cử cho thành viên đảng đối lập (non constituency members) và dành tối đa 9 ghế trong Nghị viện dành cho đại diện các cộng đồng thiểu số (nominated members), các nghị sĩ được chỉ định này có nhiệm kỳ là 2,5 năm, được Ủy ban lựa chọn đặc biệt do Chủ tịch Quốc hội đứng đầu đề cử, hoạt động độc lập trên cơ sở lợi ích chung. Tuy nhiên, các nghị sĩ được chỉ định này bị giới hạn một số quyền nhất định trong hoạt động lập pháp ví dụ như không được bỏ phiếu việc sửa đối Hiến pháp, không được bỏ phiếu cho các dự thảo luật liên quan đến tiền tệ, không được bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ…..

[4]Việc gửi tài liệu cho Nghị sĩ và ngược lại Nghị sĩ gửi các nội dung chất vấn, góp ý dự thảo luật, nội dung cần thảo luận tại phiên họp do Vụ Thư kí (Clerks’Departement) trực thuộc Ban thư kí Nghị viện (Secretariat) thực hiện.

[5]Theo Điều 38 Hiến pháp Singapore Tổng thống và Nghị viện cùng thực hiện chức năng lập pháp, tuy nhiên vai trò lập pháp của Tổng thống chủ yếu nhằm kiểm tra việc đảm bảo quyền của nhóm người thiểu số của Singapore và kí phê chuẩn Luật.

[6]Bộ phận Dịch vụ công có trách nhiệm đảm bảo tiền lương và các lợi ích khác của các công chức trong khu vực hành chính công không bị quá chênh lệch so với lương và các lợi ích khác của các lao động thuộc nhóm tư nhân

[7]Theo Legislative Council SecretariatIN08/11-12, Information Note, Remuneration of Members of Parliament in Singapore, p.7

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK