Các mô hình Ủy ban chống tham nhũng trên thế giới
Cập nhật : 14:58 - 19/12/2016

 

 

Các cơ quan chống tham nhũng là một phần của hàng loạt công cụ và chiến lược có thể áp dụng nhằm giảm tệ nạn tham nhũng. Hiện nay, có khá nhiều chính phủ sử dụng mô hình Ủy ban chồng tham nhũng. Các ủy ban chống này được thành lập nhằm đáp lại yêu cầu cải cách của đông đảo cử tri trong nước, bao gồm cả các nhà lập pháp và tổ chức dân sự, và thường được thành lập sau một cuộc khủng hoảng làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng. Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy những ủy ban này chưa thực sự đạt được mục đích làm giảm tình trạng tham nhũng của quốc gia.[1] Những bằng chứng về sự kém hiệu quả của các ủy ban chống tham nhũng thể hiện ở hàng loạt các cơ quan thiếu sự độc lập với cơ quan hành pháp, không có đủ hỗ trợ ngân sách từ cơ quan lập pháp, các cơ quan tư pháp không có đủ thẩm quyền chuyển các trường hợp tham nhũng sang cơ quan công tố, và không nộp được báo cáo thường xuyên cho cơ quan lập pháp. Đây là tình trạng tiến thoái lưỡng nan: mặc dù luôn mong muốn ban hành chính sách để giảm bớt tham nhũng, song một ủy ban hoạt động kém hiệu quả  thường bị mang tiếng là chỉ cải cách chiếu lệ. Điều này làm mất uy tín chính trị của hệ thống cầm quyền.

            Bài viết này sẽ tìm hiểu bốn loại hình Ủy ban chống tham nhũng hiện nay đang được các quốc gia trên thế giới áp dụng.

  1. Mô hình tổng hợp, có các chức năng điều tra, phòng ngừa và truyền thông.

Tiêu biểu cho mô hình này là Ủy ban chống tham nhũng độc lập của Hồng Kông (ICAC). Được thành lập từ năm 1974, cho đến nay, ICAC đã thu được những thành công vang dội trong cuộc chiến chống tham nhũng.[2] Ngày nay, Hồng Kông được coi là nước có nền tư pháp ít tham nhũng nhất ở Đông Á mặc dù có nền kinh tế thị trường không kiểm soát nổi.

Để đảm bảo tín nhiệm của cơ quan này, các luật mới đã hình sự hóa tội tham nhũng bằng cách đưa ra một danh sách dài những hành vi vi phạm. Luật cũng đã trao cho các cơ quan quyền được tiến hành khám xét, kiểm tra tài khoản ngân hàng, gọi nhân chứng hầu tòa, kiểm tra tài sản cá nhân, giữ hộ chiếu và tạm giam, tạm giữ nghi phạm. Bên cạnh việc thực thi những luật định nghiêm khắc, ICAC còn được hỗ trợ ngân sách vững chắc. Năm 2001, ICAC được phân bổ khoản ngân sách tương đương 90 triệu USD.[3]

ICAC chống tham nhũng thông qua 3 Ban chức năng: điều tra, phòng ngừa và quan hệ cộng đồng. Lớn nhất trong ba bộ phận này là Ban Điều tra với chức năng điều tra các cáo buộc vi phạm pháp luật. Ban Phòng ngừa tham nhũng tài trợ cho các nghiên cứu về tham nhũng, tổ chứ hội thảo cho lãnh đạo doanh nghiệp, giúp các tổ chức nhà nước và tư nhân xây dựng chiến lược kiềm chế tham nhũng. Vai trò của Ban Quan hệ công chúng là nâng cao nhận thức về tổn thất đối với xã hội do nạn tham nhũng gây ra, thông qua các chiến lược tuyên truyền, biểu ngữ, quảng cáo trên truyền hình và phim ảnh về công việc của các nhân viên ICAC một cách kịch tính.

Hệ thống báo cáo của ICAC gồm có giám đốc của ICAC và ba ủy ban giám sát: Ủy ban đánh giá hoạt động, Ủy ban tham mưu phòng ngừa tham nhũng và Ủy ban tham mưu dân sự về quan hệ cộng đồng. ICAC phải nộp báo cáo thường kỳ theo những hướng dẫn rõ ràng về điều tra, tịch thu tài sản và thời hạn thẩm tra và các ủy ban giám sát có nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động điều tra của ICAC được tiến hành với mức độ liêm chính cao nhất.

  1. Mô hình điều tra, với tính chất là một ủy ban điều tra nhỏ, tập trung

Tiêu biểu cho mô hình này là Cục điều tra tham nhũng của Singapore (CPIB). Một đặc điểm riêng biệt của CPIB là quy mô nhỏ, tập trung vào điều tra và phục vụ một chế độ bán độc tài. CPIB không có được nguồn lực như của ICAC Hồng Kông, do vậy phải phụ thuộc vào các chiến lược răn đe với các mức phạt rất cao: phạm tội tham nhũng có thể bị phạt tới 100.000 USD và phạt tù tới 5 năm.[4] CPIB còn là một công cụ hiệu quả cho chế độ độc tài của tổng thống Lý Quang Diệu, với mục tiêu chính sách hàng đầu là tăng trưởng kinh tế và tạo ra một môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài.

Tổ chức của CPIB mang tính thứ bậc cao. Trên cùng là Tổng thống, người được nhận tất cả các báo cáo và có thể ra phán quyết cuối cùng về việc CPIB có xử lý cáo buộc tham nhũng hay không, và thấp hơn là Ủy ban tham mưu Chống tham nhũng. Một số chuyên gia đánh giá việc đưa CPIB thẳng vào nhánh hành pháp cho thấy mức độ cam kết cao của giới lãnh đạo Singapore. Thứ bậc báo cáo của CPIB củng cố thêm ảnh hưởng của cơ quan hành pháp, trong khí đó lại làm giảm tính độc lập của CPIB. Ở Singapore, các cơ chế giám sát không được rõ nét như ở Hồng Kông; tuy nhiên tham nhũng trong hệ thống nhà nước đã giảm rõ rệt. Mặc dù pháp luật có thể đã không hoàn toàn triệt tiêu được tham nhũng, song “tham nhũng chỉ là một thực tế cuộc sống chứ không phải là cách sống, hay nói một cách khác, ở Singapore có tham nhũng, song không có một xã hội tham nhũng”[5].

Bất chấp việc tập trung quyền lực, CPIB chứng tỏ cam kết của chính phủ trong việc chống tham nhũng: thứ nhất, cam kết này phát tín hiệu cho người dân trong nước rằng không thể có khoan nhượng đối với tham nhũng; thứ hai, các nhà đầu tư nước ngoài được đảm bảo rằng đầu tư của họ sẽ được an toàn. Tuy nhiên, điều quan trọng đối với một cơ quan như thế này là nó phải được hoạt động mà không bị hạn chế về trách nhiệm giải trình, điều tất yếu trong một chính thể dân chủ.

  1. Mô hình nghị viện, bao gồm các ủy ban báo cáo lên các ủy ban của Quốc hội

Ủy ban này độc lập khỏi nhánh hành pháp và tư pháp của nhà nước. Tiêu biểu cho mô hình này là Ủy ban chống tham nhũng độc lập của bang New South Wales, Australia. Kể từ khi thành lập vào năm 1989, ICAC tập trung vào giới lãnh đạo Chính phủ và khu vực tư nhân. Hơn thế, ICAC áp dụng ba nguyên tắc làm cơ sở để phòng ngừa tham nhũng. Thứ nhất là phòng hơn chống. Thứ hai, phòng tốt hơn trừng phạt. Thứ ba, phòng tốt hơn quản lý. Để bổ sung cho ba nguyên tắc này, ICAC còn ấn hành hàng loạt Báo cáo đánh giá chống tham nhũng và phổ biến trên internet cũng như trong các cơ quan chính phủ.

Cơ cấu tổ chức của ICAC gồm 1 Ủy viên, 1 trợ lý ủy viên và các giám đốc của bốn bộ phận tác nghiệp: Ban Điều tra (có chức năng tiến hành phân tích và đánh giá  điều tra các cáo buộc tham nhũng), Ban Pháp chế (đóng  vai trò liên lạc với các Ủy ban  giám sát của Nghị viện), Ban Phòng ngừa, giáo dục và nghiên cứu về tham nhũng (hoạt động trong các lĩnh vực phòng ngừa, tuyên truyền giáo dục, nghiên cứu tham nhũng và quan hệ với các cơ quan truyền thông), Ban Dịch vụ doanh nghiệp và Thương mại (có chức năng thông tin cho các đơn vị tư nhân thông qua các phương tiện như công nghệ, dịch vụ thông tin, băng đĩa và các kênh khác [6]. Trách nhiệm giải trình của ICAC được thực hiện thông qua việc nộp báo cáo thường niên cho Nghị viện và thông qua các đợt kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài đối với các hoạt động của ICAC.

ICAC hoạt động dưới sự giám sát của 2 Ủy ban Nghị viện: Ủy ban phối hợp và Ủy ban đánh giá tác nghiệp. Ủy ban phối hợp  của Nghị viện có 11 thành viên (được lựa chọn từ cả hai viện và đại diện cho các đảng trong nghị viện), có trách nhiệm giám sát và đánh giá các hoạt động của ICAC. Ủy ban này nộp báo cáo thường kỳ về các vấn đề cụ thể cho Nghị viện, đồng thời nộp các báo cáo đặc biệt để trả lời các câu hỏi mà hai viện nêu lên. Ủy ban cũng chịu trách nhiệm trả lời khiếu nại của công dân được gửi đến cho Văn phòng Thanh tra Nghị viện.

Ủy ban Đánh giá tác nghiệp yêu cầu ICAC chịu trách nhiệm giải trình về các hoạt động điều tra của ICAC và các hoạt động chung của một cơ quan chính phủ. Các phương pháp khác để thực thi trách nhiệm giải trình là giới hạn thời hạn hoạt động đối với Ủy viên, giải trình ngân sách, đảm bảo các điều luật về quyền cá nhân và tự do thông tin. Ngoài ra, Thanh tra Nghị viện còn kiểm tra các băng ghi âm điều tra để ngăn ngừa trượng hợp lạm quyền. Đóng góp lớn nhất của ICAC với tư cách là một cơ quan ngăn ngừa tham nhũng là đã làm thay đổi tiêu chuẩn thực hiện công việc ở bang New South Wales

  1. Mô hình đa ngành, gồm nhiều cơ quan độc lập nhưng cùng nhau đan thành một mạng lưới các cơ quan chống tham nhũng

Mỹ là quốc gia tiêu biểu cho mô hình này. Văn phòng Đạo đức chính phủ của Mỹ (OGE) với cách tiếp cận phòng ngừa, có vai trò bổ trợ cho thẩm quyền điều tra và công tố của Bộ Tư pháp, cùng phối hợp đấu tranh làm giảm tham nhũng. Cơ sở pháp lý của OGE là Luật Đạo đức trong Chính phủ năm 1978, trong đó có định nghĩa các trường hợp mâu thuẫn lợi ích và cấm các quan chức cao cấp của chính phủ không được tham gia vào các đơn vị, tổ chức pháp nhân có mâu thuẫn lợi ích với chính phủ. OGE hợp tác với nhiều cơ quan trong bộ máy hành pháp, bao gồm Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Văn phòng Trách nhiệm giải trình của Chính phủ và các cơ quan trong bộ Tư pháp. Nhiệm vụ của OGE là ngăn không cho xung đột lợi ích xảy ra bằng cách phổ biến thông tin về luật và quy định điều chỉnh công ăn việc làm trong khu vực nhà nước[7].

OGE là một cơ quan độc lập, báo cáo cho cả Tổng thống và Quốc hội. OGE chịu trách nhiệm thông tin cho công chức về các xung đột lợi ích và giải quyết mọi vấn đề phát sinh. Cùng với Cảnh sát liên bang và Bộ Tư pháp, OGE thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức cao đối với giới công chức và tăng cường sự tin tưởng của công chúng về sự vô tư và liêm chính trong thực hiện công vụ của đội ngũ công chức. Mục tiêu của OGE là tạo ra một môi trường đạo đức thông qua việc điều phối sự hợp tác của nhiều cơ quan trong khi vẫn công nhận sự độc lập của từng cơ quan. OGE thực thi các luật có quy định rõ về xung đột lợi ích và cụ thể các mực phạt đối với trường hợp vi phạm.

Khác với các ủy ban chống tham nhũng ở nhiều nước khác, OGE không có chức năng điều tra mà chỉ có nhiệm vụ thông tin cho các công chức nhà nước về những hành động có thể dẫn đến xung đọt lợi ích. Như vậy, vai trò của cơ quan này hoàn toàn mang tính chất ngăn ngừa và hoạt động của nó là để cải thiện nhận thức của giới công chức về pháp luật phòng chống tham nhũng. Khi xác định được bằng chứng phi pháp, OGE sẽ trình lên cho Bộ Tư pháp tiến hành điều tra và khởi tố.

 



[1] Viện Ngân hàng Thế giới (WBI), Vai trò của Nghị viện trong hạn chế tham nhũng.

[2] Klitgaard, Robert. Chống tham nhũng. BerkeleyLos Angeles. NXB Đại học California.

[3] Chan, Thomas. 2002. Bài thuyết trình về ICAC Hồng Kông tại Bulgaria.

[4] Ali, Muhammed. 2000. “Xóa bỏ tham nhũng: Kinh nghiệm của Singapore. Hội thảo kinh nghiệm quốc tế về Quản trị tốt và chống tham nhũng. Bangkok, Thái Lan.

[5] Quah, Jon.ST,“Kinh nghiệm chống tham nhũng của Singapore. Sổ tay về Tham nhũng chính trị. NXB Transaction.

[7] Davis, F.Gary, 2002. Bài thuyết trình tại Hội thảo các cơ quan chống tham nhũng tại Bulgaria.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK