Những ảnh hưởng của truyền thông trong đấu tranh chống tham nhũng
Cập nhật : 14:49 - 19/12/2016

 

 

Truyền thông có vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược chống tham nhũng. Truyền thông không chỉ làm tăng nhận thức của dân chúng về nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp chống tham nhũng, mà còn tham gia điều tra và phát hiện các vụ án tham nhũng. Về khía cạnh này, truyền thông phụ thuộc vào việc Quốc hội có thúc đẩy một môi trường luật pháp có lợi cho truyền thông hay không. Ngoài ra, Quốc hội thường coi truyền thông là bạn đồng minh trong hoạt động giám sát chính phủ và bảo đảm trách nhiệm giải trình. Việc Quốc hội hoàn toàn cởi mở trước sự tiếp cận của giới truyền thông cũng là một thành tố quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Bài viết này sẽ xem xét các tác động bên ngoài của truyền thông đối với tham nhũng, theo đó, truyền thông có thể trực tiếp ảnh hưởng tới các vụ việc tham nhũng thông qua 8 con đường sau[1]:

-          Tố giác các quan chức tham nhũng;

-          Thúc đẩy điều tra;

-          Phát hiện các vụ việc vi phạm thương mại;

-          Tăng cường hoạt động của các cơ quan chống tham nhũng;

-          Kiểm tra các cơ quan chống tham nhũng;

-          Tăng trách nhiệm giải trình trong các cuộc bầu cử;

-          Gây áp lực để thay đổi/sửa đổi luật và các quy định;

-          Tránh những dư luận bất lợi.

1. Tố giác các quan chức tham nhũng

Tố giác các quan chức tham nhũng là tác động hiệu quả nhất mà truyền thông có thể làm để ngăn chặn các hành vi sai trái. Đó là khi các chính trị gia hoặc các quan chức cao cấp bị cách chức do truyền thông đã lên tiếng tố giác hành vi tham nhũng của họ hoặc do các thủ tục tư pháp được tiến hành sau khi hành vi tham nhũng đã được phơi bày.

Năm 2000, Trung tâm điều tra báo chi Philippines (PCIJ) đã thực hiện một vụ điều tra nổi tiếng về tài sản của Tổng thống Philippines Joseph Estrada và cuộc điều tra này đã cung cấp bằng chứng cho lời buộc tội trước tòa và kết quả là sự lật đổ tổng thống – diễn viên điện ảnh này sau cuộc nổi dậy “quyền lực nhân dân” vào tháng 1/2001. Ông này đã bị quản thúc tại gia trong nhiều năm trước khi bị gọi hầu tòa vì tội chiếm đoạt tài sản, khai man trước tòa và vi phạm luật chống tham nhũng[2].

Tháng 5/2003, PCIJ lại thực hiện một phóng sự chuyên sâu về lối sống ngông cuồng, xa hoa vượt quá mức lương khiêm tốn của các cán bộ thu thuế của Cơ quan Thuế vụ Philippines. Sau khi công bố, các cơ quan chính phủ đã tiến hành điều tra chính thức và kết quả đã khiến nhiều cán bộ thu thuế bị sa thải và bị điều chuyển công tác. Các cuộc kiểm tra lối sống của các quan chức nhà nước khác đã trở thành ưu tiên trong các sáng kiến và là một hình mẫu chống tham nhũng của chính phủ Philippines[3].

Vào tháng 12/2004, Bộ trưởng Nội vụ Vương quốc Anh – David Blunkett cũng đã phải từ chức sau khi giới truyền thông cho rằng cơ quan của ông đã nhanh chóng chấp nhận cấp visa cho vú em của người tình cũ của ông. Ông đã gửi thư điện tử đến cơ quan cấp visa để yêu cầu “nhận hồ sơ xin visa không có ưu đãi nào” nhưng có thể “giải quyết nhanh hơn”.

Khi các quan chức nhà nước mất chức vì bị tố cáo là có hành vi tham nhũng thì một loạt các yếu tố tâm lý ngăn ngừa tham nhũng cũng đồng thời được tăng cường – ví dụ như: cảm thấy bị bẽ mặt trước dân chúng, mất uy tín, mất chỗ đứng trong xã hội, mất thu nhập và nhiều điều khác nữa. Hơn nữa, sự bất ổn chính trị xuất hiện cùng với các vụ tố giác quan chức cao cấp có hành vi tham nhũng đã gây áp lực phải tăng cường hơn nữa những chuẩn mực về trách nhiệm giải trình công và từ đó tạo ra nhiều rào chắn để ngăn ngừa tham nhũng.

2. Thúc đẩy các cuộc điều tra của chính quyền

Ngay cả khi không dẫn đến việc bãi nhiệm các quan chức, cán bộ nhà nước quan liêu thì những phóng sự điều tra của giới truyền thông cũng thường cung cấp động cơ thúc đẩy cơ quan chức năng tiến hành điều tra chính thức. Ví dụ, hàng loạt phóng sự do Báo Dallas Morning New năm 1997 vạch trần các vụ việc gian lận và quản lý sai nguyên tắc ở các các trường công tại Dallas đã thúc đẩy FBI tiến hành 1 loạt cuộc điều tra về tham nhũng trong trường học[4].

3. Phát hiện các vụ việc vi phạm thương mại

Phóng sự của Bamidele Adebayo thuộc Tạp chí Tin tức ở Nigeria đã vạch trần vụ lừa đảo tài chính 181 triệu USD của Ngân hàng Braxin. Nhà báo này đã được Trung tâm Điều tra quốc tế về tính liêm khiết của nhà nước trao giải thưởng vào tháng 10/2001. Phát hiện các vụ việc vi phạm thương mại cũng có thể thu hút sự chú ý của công chúng đối với các đạo luật tham nhũng.

4. Tăng cường hoạt động của các cơ quan chống tham nhũng

Đôi khi, các phóng sự điều tra của báo chí cũng có vai trò quyết định trong việc tăng cường tính hiệu quả của các cơ quan nhà nước chống tham nhũng. Phản ánh một cách đơn giản, chi tiết về kết luận điều tra của những cơ quan chống tham nhũng có thể tăng khả năng kiểm soát và mức độ độc lập của chúng đối với các nhóm lợi ích trong cơ quan quyền lực – là những lực lượng luôn tìm cách can thiệp và giám sát hoạt động của các cơ quan chống tham nhũng.

5. Kiểm tra các cơ quan chống tham nhũng

Để xây dựng các phóng sự xác thực và giàu sức thuyết phục, các nhà báo có thể trở nên gần gũi với các cơ quan chống tham nhũng, vì đây nguồn cung cấp thông tin tin cậy nhất. Tuy nhiên, mối quan hệ này có thể khiến cho chính các cơ quan chồng tham nhũng bắt đầu có hành vi tham nhũng. Vì vậy, nhân tố quyết định tính khách quan là các nhà báo phải hoàn toàn độc lập với cảnh sát, công tố viên, tòa án và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phát hiện, điều tra và kết luận về các vụ tham nhũng. Như vậy, các nhà báo có thể theo sát những cơ quan này, tìm ra yếu điểm và từ đó tăng cường hiệu quả của chúng trong cuộc chiến chống tham nhũng.

6. Tăng trách nhiệm giải trình trong các cuộc bầu cử

Các bài báo điều tra về hành vi tham nhũng có thể giúp hình thành một phản ứng gay gắt từ dư luận xã hội khiến các nhà hoạt động chính trị hoặc toàn bộ đảng chính trị nào đó thất bại trong các cuộc bầu cử. Thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1997 tại Anh của ông Tony Blair trước Thủ tướng đương nhiệm lúc bấy giờ là ông John Major thuộc đảng Bảo thủ, một phần là do việc tờ báo Sunday Times đã phanh phui vụ hai đảng viên đảng Bảo thủ nhận hơn 1000 USD để đổi lấy việc đặt câu hỏi chất vấn trước Quốc hội khiến dân chúng phẫn nộ.

7. Gây áp lực để thay đổi luật và các quy định

Báo chí điều tra cũng có thể góp phấn đấu tranh chống tham nhũng bằng cách chỉ rõ các khuyết điểm, kẽ hở trong luật có thể tạo ra môi trường cho tham nhũng. Nếu làm được điều này, các cấp chính quyền sẽ buộc phải thay đổi các quy định pháp luật nhằm khắc phục những thiếu sót trên.

8. Tránh những dư luận bất lợi

Đôi khi chỉ cần các nhà báo đặt câu hỏi – mà không có các phóng sự điều tra hay chứng cứ về hành vi sai trái, các quan chức chính quyền đã nhanh chóng đáp lại để bảo vệ danh tiếng của mình. Năm 1993, khi tờ Minneapolis Star-Tribune bắt đầu nghi ngờ về mối quan hệ giữa câu lạc bộ thoát y địa phương với một số cảnh sát khi câu lạc bộ này có nhiều sai phạm nghiêm trọng mà vẫn được tiếp tục hoạt động kinh doanh; Sở cảnh sát đã ngay lập tức đáp lại nghi vấn bằng cách mở một cuộc điều tra nội bộ.

Những nỗ lực của giới truyền thông nhằm phát hiện và báo cáo về các hành vi tham nhũng thường có tác động gián tiếp hơn là trực tiếp, vô hình hơn là hữu hình. Tuy nhiên, không thể phủ định rằng vai trò của truyền thông trong cuộc chiến chống tham nhũng là rất lớn và rất có giá trị. Thông thường, phóng sự về các vụ tham nhũng của quan chức chính phủ chính là điểm khởi đầu cho quá trình điều tra chính thức, truy tố tư pháp hoặc từ chức. Rộng hơn, các bài phóng sự của giới truyền thông đã làm tăng tính dân chủ và trách nhiệm giải trình trong xã hội.

 

 



[1] Islam, R. 2002. The Right to Tell: The Role of Mass Media in Economic Development. Washington, DC: World Bank Institute.

[3] Coronel, Sheila. “Opening a Pandora’s Box: The Emergence of a Free Press in Southeast Asia”. Development Dialogue (2003). Uppsala, Sweden.

[4] Nguồn: IRE (Investigative Reporters and Editors, Inc.) tại http://www.ire.org/resourecenter/about.html.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK