Cải cách hệ thống lương hưu ở châu Âu
Cập nhật : 14:43 - 19/12/2016

 

 

Hệ thống hưu trí là bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hệ thống hưu trí thông thường được xây dựng gồm ba tầng (phúc lợi xã hội, hưu trí bắt buộc và hưu trí tự nguyện) nhằm đảm bảo diện bao phủ rộng và cung cấp sản phẩm hưu trí linh hoạt. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế và cơ cấu dân số xã hội, hệ thống hưu trí được xây dựng tương đối khác biệt theo từng quốc gia. Ở châu Âu, phúc lợi được thành lập trên cơ sở hình thành các hệ thống an sinh xã hội và hệ thống hưu trí công cộng. Mục đích của  các hệ thống hưu trí công cộng là nhằm cung cấp một nguồn thu nhập đảm bảo cho công dân ngay khi công dân đó nghỉ hưu.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, các nước châu Âu đang phải đối mặt với sự biến động về nhân khẩu học và biến đổi xã hội với việc đảo ngược tháp dân số, tuổi thọ tăng, dân số già, thời gian lao động rút ngắn và thời gian hưu trí dài hơn. Ngoài ra, tình hình thâm hụt ngân sách của một số nước đã tác động tiêu cực đến tình hình tài chính- kinh tế vốn đã rất mong manh của hệ thống hưu trí công cộng. Tình hình trên đã dẫn đến nhu cầu cấp thiết phải cải  cách.

Tuy nhiên, vấn đề cải cách đã gây nhiều tranh cãi bởi mặc dù có nhiều lựa chọn thay thế khác nhau nhưng không có sự lực chọn nào là thỏa đáng tuyệt đối. Một trong những lựa chọn đó là chuyển đổi hệ thống công cộng áp dụng  phương pháp phân phối (PAYG) sang hệ thống tư nhân tự đóng góp (hay còn gọi là kế hoạch lương hưu). Tuy vậy, giải pháp này lại rất tốn kém và còn những nghi ngờ về chất lượng hoạt động quản lý và điều hành nguồn quỹ bảo hiểm đóng góp. Còn có giải pháp khác là thay thế cơ chế thực hiện chế độ  bảo hiểm hiện thời bằng cách đổi mới cách thức đóng góp  vào quỹ bảo hiểm thông qua thuế gián thu. Tuy nhiên, giải pháp này có thể  tạo ra những thua thiệt về mặt an sinh xã hội đối với những người lao động trực tiếp chịu tác động trong thời gian cải cách được thực hiện, nhưng về lâu dài, trong tương lai các cá nhân tham gia bảo hiểm sẽ được hưởng lợi tốt hơn.

Tuy còn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều, nhưng những năm gần đây nhiều nước châu Âu đang có xu hướng thay thế các hệ thống an sinh xã hội truyền thống sang những hệ thống mới. Trong các hệ thống mới này, người lao động sẽ tự chi trả lấy lương hưu cho mình mà không bị rủi ro mất thu nhập trong tương lai. Người lao động sẽ hưởng đúng những gì mà họ từng tích lũy trong suốt quãng đời lao động  của bản thân mình.

Với xu hướng này, chính phủ một số nước đã tiến hành áp dụng hệ thống bảo hiểm xã hội bổ sung bằng cách áp dụng các biện pháp tài chính ưu đãi trong quá trình tham gia đầu tư tài chính và các công cụ tiết kiệm (ví dụ như thực hiện kế hoạch lương hưu). Thực hiện kế hoạch lương hưu sẽ giúp người lao động tạo ra nguồn quỹ tiết kiệm. Trên cơ sở, người lao động thường xuyên hoặc định kỳ đóng góp , tiết kiệm với mục đích về lâu dài sẽ tạo vốn để chi dùng trong quỹ lương hưu công cộng bổ sung ngay tại thời điểm người lao động đó nghỉ hưu.

Hệ thống hưu trí công cộng và hệ thống hưu trí bổ sung

Hiện nay, mô hình nhà nước phúc lợi châu Âu chia thành 4 loại khác nhau:

- Mô hình Bắc Âu: gồm các nước Đan Mạch, Na Uy, Ai- xơ-len (Iceland), Phần Lan, Thụy Điển và Hà Lan

- Mô hình lục địa: gồm Áo, Bỉ, Pháp, Đức và Luxembourg

- Mô hình Anglo- Saxon: Ai len và Anh

- Mô hình Địa Trung Hải: Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

Hai mô hình Lục địa và Bắc Âu gần tương tự nhau, tuy nhiên mô hình Lục địa  có ưu tiên chi phí nhiều hơn cho hưu trí. Mô hình Anglo- Saxon được coi là kém hào phóng nhất trong chi tiêu an sinh xã hội.

Mô hình Địa Trung Hải được áp dụng tại các quốc gia thực hiện nhà nước phúc lợi muộn hơn, vào giữa những năm 1970 và 1980. Mô hình này có chi phí ít hơn, chi chủ yếu là lương hưu.

Dù áp dụng mô hình nào trong 4 mô hình  trên, tất cả các hệ thống lương hưu ở châu Âu đều áp dụng chung  cách tiếp cận “ba trụ cột”.

Trụ cột thứ nhất: là hệ thống công cộng, mang tính bắt buộc, PAYG với mức lương hưu được hưởng theo quy định, đảm bảo cho người hưu trí một mức lương hưu tối thiểu. Theo đó, hệ thống lương hưu có mức hưởng được xác định trước được hình thành trên sự đóng góp bảo hiểm của người lao động còn đang đi làm. Phần đóng góp này sẽ được trích để thanh toán hưu trí cho người về hưu. Phần hưu trí  được hưởng cho mỗi người lao động  khi về hưu sẽ tùy thuộc vào mức độ đóng góp trong suốt thời gian làm việc của người lao động đó.

Trụ cột thứ hai: là cơ chế có sự đóng góp phí từ các doanh nghiệp và người lao động; được hình thành nên từ các cơ chế mang tính chất bổ sung  và tư nhân, tùy theo nghề nghiệp. Trụ cột này có thể mang tính bắt buộc hoặc lựa chọn; có thể thay thế hoặc bổ sung cho trụ cột thứ nhất (hệ thống hưu trí công cộng), và có thể mang tính chất công cộng  hoặc tư nhân.

Trụ cột thứ ba: trụ cột này được hình thành là nhờ có các tài khoản tiết kiệm của từng cá nhân. Do đó, nó mang tính chất tư nhân và tự chọn. Kế hoạch lương hưu tư nhân chính là biểu hiện cụ thể của trụ cột thứ ba.

Như vậy có thể thấy, trụ cột thứ nhất bao hàm  hệ thống an sinh xã hội công cộng. Trụ cột thứ hai và trụ cột thứ ba là những hệ thống trợ cấp xã hội lương hưu bổ sung, mang tính chất tư nhân.

Vai trò và ý nghĩa của mỗi trụ cột là không hề giống nhau giữa các nước. Ở một số nước, trụ cột đầu tiên được ưu tiên phát triển thì hai trụ cột còn lại chỉ mang tính chất bổ sung và ngược lại. Chính vì lý do này nên các nguồn quỹ hưu trí tư nhân và các kế hoạch lương hưu tư nhân vận hành rất khác nhau tùy theo từng nước, do phải chịu chi phối tác động bởi những quyết định chính trị liên quan đến các vấn đề xã hội và tài chính. Qũy hưu trí và kế hoạch lương hưu hiện đang là hình thức phát triển nhất trên thế giới và trong nhiều trường hợp góp phần bổ sung, hỗ trợ cho hệ thống hưu trí công cộng.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK